Chương 1: Nghiên cứu tong quan về hoạt động nghiên cứu khoa học tại HVQY, làm rõ những khái niệm liên quan đến luận văn và những đặc điểm của hoạt động nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y dược học và công tác quản lý nghiên cứu khoa học. Chương 2: Chủ yếu nghiên cứu, phân tích, đánh giá đúng thực trạng qui trình công tác quản lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học tại HVQY. Chương 3: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nghiên cứu khoa học lĩnh vực y - dược học tại HVQY. CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA DE TÀI 1.
Tổng quan hoạt động NCKH ở HVQY 1. Thực hiện nhiệm vụ NCKH HVQY là một trung tâm dao tạo, NCKH và điều trị lớn của quân đội. NCKH được xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thời gian qua, hoạt động NCKH của Học viện đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII đã định hướng chiến lược phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước.
Căn cứ định hướng công tác khoa học, công nghệ và Môi trường (KH,CN&MT) quân sự của Đảng ủy quân sự Trung ương. Xuất phát từ những yêu cầu nhiệm vụ BQP giao cho, của chính HVQY va tiềm lực về KH&CN Học viện, những năm qua HVQY luôn chủ động xây dung và triển khai thực hiện có hiệu quả các kế hoạch hoạt động NCKH theo từng giai đoạn va từng năm cụ thê của đơn vỊ. Kế thừa và phát huy những thành tựu NCKH trên các lĩnh vực HVQY định hướng nghiên cứu trên nền tảng có sẵn đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu mũi nhọn vừa phục vụ an ninh quốc phòng vừa phục vụ dân sinh; vừa phục vụ cho công tác đào tạo nhân lực và hỗ trợ chân đoán, điều trị người bệnh ngày hiệu quả hơn. NCKH ở HVQY được thực hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó tiêu biểu là các mũi nhọn: * Y học quân sự: - Nghiên cứu sản xuất thành công các loại thuốc và phương tiện làm các nhiệm vụ Quốc phòng.
Sản phẩm được Hội đồng khoa học quân sự BỌP đánh giá xuất sắc và đó được đưa vào trang bi cho các don vi bộ đội. - Nghiên cứu phục vụ công tác bảo đảm quân y: đã triển khai nghiên cứu công tác bảo đảm quân y cho sư đoàn bộ binh chiến đấu tiến công và phòng ngự khu vực đô thị, nghiên cứu phát triển công tác bảo đảm quân y cho bộ đội ở các quân binh chủng. - Nghiên cứu tổ chức cứu chữa vận chuyền thương binh cho lực lượng vũ trang bảo vệ cơ quan Trung ương trong tình huống thực hiện nhiệm vụ đặc biệt, nghiên cứu tô chức cứu chữa người bị thương, bị nạn trong thảm họa bão lụt, hỏa hoạn, động đất, giao thông. - Trong lĩnh vực nghiên cứu độc học: đã xây dựng Trung tâm độc học với thiết bị phát hiện, phân tích độc chất nhanh, chính xác.
Đã nghiên cứu các biện pháp kết hợp quân - dân y dé kiểm soát, dự báo giải quyết các vụ nhiễm độc hàng loạt trong thời bình và thời chiến. - Xây dựng chuyên ngành Y học thảm họa và bỏng, Viện Bỏng Quốc gia đã nghiên cứu điều trị nhiều vụ thảm họa cháy né nghiêm trọng. * Khoa học và kỹ thuật ghép tạng: - Ghép thận: Năm 1992 ca ghép thận trên người lần đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thành công tại HVQY. Đến nay, toan quốc đã có hàng trăm bệnh nhân được cứu sống nhờ kỹ thuật ghép thận.
Sau thành công trong việc phép thận, từ 1997 - 2003, HVQY được Bộ Y tế giao là đơn vi chủ trì dự án ghép tạng. Cụm công trình ghép tạng của HVQY đã được Nhà nước tặng thưởng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học va công nghệ năm 2005. - Ghép gan: Năm 2004, HVQY đã nghiên cứu ghép gan thành công trên người, từ đó chuyên giao kỹ thuật cho các cơ sở y tế khác. Dé tài: "Nghiên cứu một số van đề về ghép gan đó thực hiện ghép gan trên người tại Việt Nam”.14/01-05 là đề tài thuộc cụm công trình ghép tạng của Nhà nước được thực hiện tại HVQY.
Sù thành công ca ghép gan đầu tiên trên người ở Việt Nam (vào ngày 31.2004), mở ra bước phát triển mới trong sự nghiệp ghép tạng nước nhà. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã mang lại ý nghĩa về khoa học và về kinh tế xã hội lớn cho nền y học Việt Nam. - Ghép tim: Phát huy thành quả về ghép thận, ghép gan đã đạt được, HVQY đã tiến hành nghiên cứu ghép tim thực nghiệm trên động vat và kết qua là đã thực hiện thành công ca ghép tim đầu tiên trên người vào ngày 17 tháng 6 năm 2010. Đây là dấu mốc lịch sử về thành tích ghép tạng của HVQY.
Rất nhiều những kết quả nghiên cứu và ứng dụng trong thực tế, thiết thực 8 phục vụ chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng, Học viện đã đóng góp rất lớn vào thành tích chung về NCKH của ngành Y tế của nước nhà. * Công nghệ sinh học: HVQY đã được đầu tư xây dựng Trung tâm nghiên cứu ứng dụng sinh - y - dược học. Trung tâm được đầu tư nhiều trang thiết bị hiện đại, có thể đáp ứng việc triển khai các hướng công nghệ tiên tiễn của thế giới về gen, protein, enzym, vi sinh vật và phân tích, đặc biệt là nghiên cứu tế bao gốc. HVQY xác định phát triển Y sinh học là mục tiêu quan trọng trong phục vụ quốc phòng, an ninh và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Nghiên cứu thành công quy trình nuôi cấy nguyên bào sợi, quy trình nuôi cấy tế bào sừng đề điều trị vết thương vết bỏng; - Bước đầu nghiên cứu nuôi cấy, biệt hóa tế bào gốc sinh tinh phục vụ điều trị vô sinh nam giới do không có tinh trùng. Hiện nay đã nuôi cấy thành công tinh tử thành tinh trùng; đây là một trong 10 sự kiện KH&CN năm 2008; - Phối hợp với Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Công ty MEKOPHA nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc tạo máu tự thân đề điều trị các tổn thương cơ, xương, khớp khó liền, phân lập tế bào gốc từ màng dây ron; - Hiện nay, HVQY đang hoàn thiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ xây dựng Ngân hàng tế bào gốc; - Nghiên cứu ứng dụng công nghệ phôi: đã nghiên cứu ứng dụng quy trình kỹ thuật và thực hiện thành công thụ tỉnh trong ống nghiệm, phát triển kỹ thuật lọc, rửa và bảo quản tỉnh trùng. HVQY là cơ sở thứ 3 trên toàn quốc thực hiện thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Đến nay, đã cho ra đời gần một nghìn cháu bang kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và hỗ trợ sinh sản, mang lại hạnh phúc cho nhiều gia đình; - Bước đầu thành công trong nghiên cứu quy trình sản xuất một số chế pham sinh học phục vụ chân đoán và điều trị.
Điển hình là ứng dụng kỹ thuật PCR phục vụ nghiên cứu chan đoán bệnh, nghiên cứu chế tạo vacxin phòng chống nhiễm khuân đường hô hấp, huyết thanh kháng trực khuân mủ xanh, huyết thanh kháng nọc răn. - Nghiên cứu dược chất và bao chế, dự án: “Hoan thiện quy trình kỹ thuật tách chiết, tinh chế Rotundin từ củ bình vôi, dé điều chế Rotundin Sulphat và pha chế thuốc tiêm Rotundin Sulphat quy mô Pilot”- Mã số: KC.04/01- 05, với sản phẩm là tách chiết được thuốc Rotudin sulphat từ củ bình vôi làm thuốc tiêm và được lưu hành trên toàn quốc, thay thế cho thuốc tân dược có tác dụng an than gây nghiện. Sản phẩm này đã được Cục sở h=u trí tuệ cap bằng độc quyên sáng chế năm 2001, giải thưởng VIFOTEC năm 2002. - Tập trung nghiên cứu các kỹ thuật gen, ADN dé chân đoán di tật trước sinh, nhận dang cá thể xác định huyết thong và giám định pháp y; - Nghiên cứu xây dựng cơ sở nguồn gen và nguồn chủng các mam bệnh phục vụ kiểm soát các tác nhân sinh học.
Tiến tới xây dựng thành Ngân hàng các nguồn chủng, nguồn gen, - Ung dụng thành công công nghệ tế bào gốc thực vật, nuôi cấy sinh khối tế bao sâm Ngọc Linh, tạo nguồn nguyên liệu sản xuất một số chế phẩm phục vụ đời sống, công trình này đã được Cục sở hữu trí tuệ cấp băng độc quyền sáng chế năm 2009. Đây là công nghệ tiên tiến được thực hiện thành công đầu tiên ở Việt Nam. Bước đầu nuôi cấy sinh khối tế bào gốc cây thông đỏ Việt Nam, Sâm Vũ diệp. - Nghiên cứu sản xuất một số thực phẩm chức năng viên nang mềm MULTINAX và nước tăng lực VINATONIC để tăng lực, tăng sức dẻo dai và chống mét mỏi.
- Nghiên cứu sản xuất viên nang mềm NATANAX tăng cường giải độc, chống gốc tự do chống Stress, điều biến miễn dịch, bảo vệ các đối tượng làm việc trong môi trường độc hại. - Nghiên cứu Sản xuất một số thuốc giảm đau nhanh FASTAPAIN và kem giảm đau tác dụng kéo đài ATAPAIN điều trị chấn thương trong sinh hoạt và tập luyện. * Kế thừa và phát triển y học cỗ truyền: - Đã nghiên cứu áp dụng quy trình châm tê phẫu thuật vào mô cho gần 10.000 trường hợp an toàn. Các trường hợp được mô bằng châm tê được hồi 10 phục nhanh và không gây biến chứng phụ do thuốc mê.
- Nghiên cứu bào chế nhiều chế pham từ dược liệu trong nước như B76, Maduxin, Phylamin, CM8. Nhiều sản phẩm đã được lưu hành rộng rãi trên thị trường. Trong đó sản phẩm Phylamin, Rotundin sulphat đã được cấp bang độc quyền sáng chế, được nhận giải nhất Giải thưởng sáng tạo kỹ thuật VIFOTEC. Ngoài những nhiệm vụ trọng tâm trong NCKH được Nhà nước va Bộ Quốc phòng giao cho, HVQY còn thực hiện rất nhiều các đề tài cấp Bộ Quốc phòng và các Bộ ngành liên quan.
Hoạt động NCKH gắn với nhiệm vụ đào tạo. Hoạt động NCKH của Học viện luôn hướng tới những vấn đề mới của ngành y tế nhằm góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu của cán bộ, giảng viên, học viên sau đại học. Hoạt động NCKH đã gắn chặt với nhiệm vụ đào tạo, trong đó có đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ và Bác sĩ nội trú, Bác sĩ chuyên khoa 2. Học viện luôn xác định các luận án, luận văn của học viên sau đại học là một sản phẩm nghiên cứu của dé tài, du án.
Nhiều đề tài tập trung nghiên cứu đối mới hoạt động dao tạo, các hình thức, biện pháp để tích cực hóa hoạt động giảng dạy, tự đào tạo, các hình thức sử dụng phương tiện dạy học, đổi mới phương pháp giảng day đại học.