Tổng quan nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu khoa học tại các cơ sở giáo dục đại học đóng vai trò then chốt trong việc khẳng định vị thế học thuật và nâng cao chất lượng đào tạo. Tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đội ngũ trí thức gồm 514 cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, trong đó có 32 Giáo sư, Phó Giáo sư cùng 130 Tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ, đóng vai trò hạt nhân trong việc tạo ra các giá trị tri thức mới. Dù trong giai đoạn 2001 - 2006, nhà trường đã xuất bản 293 đầu sách và công bố hàng trăm công trình, nhưng năng lực nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên nhìn chung vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là tình trạng nghiên cứu còn mang tính phân tán, đơn lẻ, chủ yếu dựa vào nỗ lực của một bộ phận giảng viên có bề dày thâm niên mà thiếu đi sự gắn kết mang tính hệ thống. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là khảo sát toàn diện thực trạng, đánh giá tiềm năng khoa học của giảng viên, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh nhằm nâng cao năng suất và chất lượng nghiên cứu khoa học.

Phạm vi không gian của đề tài tập trung tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, với phạm vi thời gian khảo sát sâu từ năm 2001 đến năm 2009, gắn liền với chủ trương phát triển đại học nghiên cứu của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ý nghĩa của luận văn thể hiện qua việc cung cấp cơ sở khoa học để tối ưu hóa quy định dành ít nhất 30% thời gian làm việc cho nghiên cứu khoa học của giảng viên, giảm thiểu tỷ lệ đề tài quá hạn, đồng thời gia tăng các công bố quốc tế chuẩn ISI và thúc đẩy hiệu quả ứng dụng thực tiễn cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng các lý thuyết quản lý khoa học hiện đại và quản trị nguồn nhân lực học thuật. Về mặt khái niệm, tác giả tổng hợp định nghĩa khoa học như một hệ thống tri thức khách quan về tự nhiên, xã hội và tư duy. Khái niệm nghiên cứu khoa học được soi chiếu qua quan điểm của Grinnell (1993) về việc sử dụng phương pháp khoa học để giải quyết vấn đề và khám phá tri thức mới, cùng luận điểm của Kerlinger (1986) xem nghiên cứu là sự quan sát có hệ thống và kiểm nghiệm thực tế.

Khung lý thuyết then chốt của đề tài là lý thuyết tổ chức nhóm nghiên cứu khoa học (Scientific Research Group - SRG) dựa trên nghiên cứu kinh điển của Joseph S. Fruton (1990). Nhóm nghiên cứu được xác định là tập thể các nhà khoa học có năng lực chuyên môn bổ trợ cho nhau, được dẫn dắt bởi thủ lĩnh khoa học uy tín, cùng cam kết thực hiện mục tiêu chung và vận hành xoay quanh một đơn vị hạt nhân.

Bên cạnh đó, nghiên cứu dựa chắc chắn vào hệ thống văn bản pháp lý quốc gia gồm Điều 18, Điều 59 và Điều 73 của Luật Giáo dục; Điều 4, Điều 12, Điều 17 và Điều 18 của Luật Khoa học và Công nghệ; Quyết định số 67/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu xây dựng 100 nhóm nghiên cứu mạnh; cùng các Quyết định số 501 và 502/QĐ-ĐHQG-KHCN năm 2009 của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về quy chế quản lý hoạt động khoa học công nghệ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận hỗn hợp kết hợp giữa thu thập dữ liệu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy cao nhất cho các kết luận. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống báo cáo thống kê của Phòng Sau đại học - Quản lý khoa học, lưu trữ các chỉ số hoạt động nghiên cứu giai đoạn 2001 - 2009.

Cỡ mẫu khảo sát định lượng được xác định với quy mô 150 phiếu điều tra phát trực tiếp tới giảng viên thuộc 26 khoa và bộ môn trong toàn trường. Phương pháp chọn mẫu được phân tách rõ ràng thành hai cấp độ: mẫu diện đối với toàn thể cán bộ giảng dạy nhằm đánh giá nhận thức và khó khăn chung; mẫu điểm tập trung vào các nhóm nghiên cứu hiện hành và các trung tâm nghiên cứu trọng điểm. Song song đó, phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện đối với các cán bộ quản lý khoa học cấp trường và lãnh đạo khoa nhằm khai thác các góc nhìn chuyên sâu về cơ chế quản trị.

Lý do lựa chọn cách tiếp cận này xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động khoa học xã hội và nhân văn, nơi mà các rào cản tâm lý, động lực học thuật và cấu trúc nhóm chỉ có thể được làm sáng tỏ khi kết hợp đối chiếu giữa số liệu thống kê đề tài thực tế với ý kiến đánh giá trực tiếp của người nghiên cứu. Quá trình thu thập và xử lý số liệu được triển khai chặt chẽ trong năm 2009 và hoàn thiện báo cáo vào năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô đề tài nghiên cứu khoa học có sự gia tăng về số lượng nhưng bộc lộ sự thiếu ổn định và tồn tại tỷ lệ trễ hạn. Trong giai đoạn 2001 - 2006, giảng viên nhà trường đã thực hiện 150 đề tài cấp trường, 49 đề tài cấp cơ sở, 21 đề tài trọng điểm Đại học Quốc gia và 4 đề tài cấp Nhà nước (gồm 1 đề tài độc lập và 3 đề tài nhánh). Tuy nhiên, có 5 đề tài rơi vào tình trạng quá hạn nghiêm trọng, dẫn đến việc Hiệu trưởng phải ký quyết định thu hồi 4 đề tài với tổng kinh phí 43 triệu đồng và truy thu kinh phí tạm ứng 23 triệu đồng từ 2 chủ nhiệm đề tài. Bước sang giai đoạn 2007 - 2008, trường đã thực hiện 41 đề tài cấp trường, 20 đề tài cấp Đại học Quốc gia và 7 đề tài trọng điểm, nghiệm thu thành công 53 đề tài được xếp loại khá và tốt.

Thứ hai, năng suất công bố khoa học trong nước đạt mức ấn tượng nhưng công bố quốc tế còn rất hạn chế. Trong giai đoạn 2001 - 2006, toàn trường xuất bản 293 đầu sách, đạt tỷ lệ trung bình 0,79 sách trên mỗi cán bộ cơ hữu. Hàng năm cán bộ công bố hơn 200 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành trong nước. Tuy vậy, số lượng bài báo đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế chỉ đạt từ 1 đến 4 bài mỗi năm trong giai đoạn 2002 - 2006 (năm 2002 có 4 bài, năm 2003 có 1 bài, năm 2004 có 2 bài, năm 2005 có 2 bài và năm 2006 có 2 bài). Con số này quá nhỏ bé khi so sánh với tổng số 523 bài báo quốc tế của toàn hệ thống Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2006 - 2009 (trong đó có 372 bài chuẩn ISI, chiếm 71,13%).

Thứ ba, cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu được tăng cường đáng kể nhưng mô hình nhóm nghiên cứu còn mang tính tự phát. Từ năm 2004 đến 2006, tổng kinh phí đầu tư trang thiết bị cho 5 phòng thí nghiệm và phòng thực hành đạt 6.915 triệu đồng (cụ thể năm 2004 là 2.650 triệu đồng, năm 2005 là 1.765 triệu đồng và năm 2006 là 2.500 triệu đồng). Dù hạ tầng kỹ thuật được nâng cấp, các nhóm nghiên cứu trong trường hầu hết chỉ hình thành theo thời vụ để thực hiện từng đề tài cụ thể rồi tự giải tán sau nghiệm thu, chưa xây dựng được các nhóm nghiên cứu mạnh hoạt động bền vững.

Thứ tư, nguồn nhân lực nghiên cứu trẻ chưa được huy động hiệu quả vào các chương trình trọng điểm. Mặc dù nhà trường đào tạo hơn 1.700 học viên sau đại học và quy tụ 282 Thạc sĩ, lực lượng này vẫn chưa trở thành mắt xích liên kết hữu cơ trong các đề tài do các Giáo sư và Tiến sĩ chủ trì, làm giảm tốc độ đào tạo cán bộ kế cận.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh rõ thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của khối khoa học xã hội và nhân văn chịu ảnh hưởng lớn bởi định mức giảng dạy nặng nề. Phần lớn giảng viên phải hoàn thành số tiết giảng lớn trên lớp, khiến quỹ thời gian 30% dành cho nghiên cứu bị co hẹp đáng kể. Thói quen nghiên cứu độc lập truyền thống của ngành xã hội nhân văn vô hình trung tạo nên sức ỳ, ngăn cản việc hình thành các liên minh khoa học liên ngành.

Khi so sánh với các đơn vị thành viên khối khoa học tự nhiên và công nghệ thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (nơi đã xây dựng được 20 nhóm nghiên cứu mạnh, mang lại doanh thu chuyển giao công nghệ đạt 411,5 tỷ đồng giai đoạn 2001 - 2007 và 99,5 tỷ đồng trong năm 2008), khối khoa học xã hội đang tụt lại phía sau về khả năng thương mại hóa và công bố quốc tế. Dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng phân tích cơ cấu đề tài các cấp qua từng giai đoạn và bảng ma trận so sánh hiệu suất công bố giữa các khoa chuyên ngành. Việc phân tích trực quan này sẽ làm nổi bật sự chênh lệch lớn giữa năng lực chuyên môn và kết quả đầu ra thực tế, minh chứng cho tính cấp thiết phải chuyển đổi cấu trúc tổ chức sang mô hình nhóm nghiên cứu chuyên nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế quản lý và thành lập các nhóm nghiên cứu mạnh chuyên biệt. Ban Giám hiệu cùng Phòng Sau đại học - Quản lý khoa học cần xây dựng quy chế công nhận chính thức nhóm nghiên cứu khoa học cấp trường, phân bổ kinh phí cố định hàng năm từ 15% đến 20% ngân sách khoa học cho các nhóm nòng cốt. Mục tiêu đến năm 2012 thành lập từ 5 đến 8 nhóm nghiên cứu mũi nhọn thuộc các thế mạnh truyền thống như Ngôn ngữ - Văn học, Lịch sử - Nhân học, Triết học - Xã hội học và Nam Bộ học.

Thứ hai, cơ cấu lại định mức lao động và chính sách đãi ngộ tài chính. Hội đồng Khoa học và Đào tạo cần ban hành chính sách giảm từ 20% đến 30% định mức giờ giảng cho các giảng viên giữ vai trò trưởng nhóm hoặc thành viên chủ chốt đang chủ trì đề tài cấp Đại học Quốc gia và cấp Nhà nước. Đồng thời, thiết lập cơ chế thưởng tài chính xứng đáng cho các công trình công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI, áp dụng lộ trình thực hiện liên tục trong giai đoạn 2010 - 2015.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu nhóm với đào tạo sau đại học. Ban Chủ nhiệm các Khoa và Trưởng Bộ môn cần đưa tiêu chí bắt buộc các đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia trọng điểm phải có sự tham gia của ít nhất 2 học viên cao học hoặc 1 nghiên cứu sinh. Quy định này giúp tận dụng tối đa nguồn lực của 1.700 học viên sau đại học, biến hoạt động làm luận văn thành sản phẩm đầu ra trực tiếp của nhóm nghiên cứu.

Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu liên ngành và quốc tế hóa nguồn tài trợ. Các trung tâm nghiên cứu trực thuộc trường (như Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam - Đông Nam Á, Trung tâm Hàn Quốc học) cần chủ động liên kết với mạng lưới hơn 150 đối tác quốc tế để đấu thầu các dự án phi chính phủ và hợp đồng đặt hàng từ các Sở Khoa học và Công nghệ tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ, phấn đấu nâng nguồn thu ngoài ngân sách lên mức 30% tổng kinh phí nghiên cứu vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà quản lý giáo dục đại học và lãnh đạo các trường đại học thành viên. Luận văn cung cấp khung tham chiếu thực tiễn để xây dựng chiến lược chuyển đổi mô hình từ đại học giảng dạy thuần túy sang đại học nghiên cứu, giúp các nhà quản lý hoạch định chính sách phân bổ ngân sách khoa học hợp lý cho hơn 500 cán bộ giảng dạy.

Nhóm thứ hai là đội ngũ giảng viên, trưởng bộ môn và các nhà khoa học đang công tác trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Tài liệu này là cẩm nang hữu ích về phương pháp tổ chức và điều hành nhóm nghiên cứu khoa học theo mô hình chuẩn, giúp khắc phục tình trạng phân tán nguồn lực và tối ưu hóa thời gian nghiên cứu.

Nhóm thứ ba là các chuyên viên hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý khoa học và công nghệ cấp bộ, ngành và địa phương. Số liệu thực chứng về tình hình thực hiện đề tài tại khu vực phía Nam giúp các nhà hoạch định điều chỉnh các quy định nghiệm thu, cấp vốn và quản lý sở hữu trí tuệ phù hợp hơn với đặc thù ngành khoa học xã hội.

Nhóm thứ tư là học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý khoa học và công nghệ hoặc Quản lý giáo dục. Luận văn đóng vai trò là một ca nghiên cứu điển hình về phương pháp khảo sát định lượng với quy mô 150 mẫu, cung cấp tư liệu phong phú cho các đề tài nghiên cứu về quản trị nguồn nhân lực học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Xây dựng nhóm nghiên cứu mang lại lợi ích gì vượt trội so với nghiên cứu cá nhân? Mô hình nhóm nghiên cứu giúp tích hợp đa dạng kỹ năng chuyên môn, tạo sức mạnh cộng hưởng để đảm nhận các đề tài quy mô lớn cấp Nhà nước và cấp Đại học Quốc gia. Nhóm nghiên cứu giúp giảm thiểu rủi ro trễ hạn đề tài, tăng năng suất công bố quốc tế chuẩn ISI và tạo môi trường học thuật liên tục để bồi dưỡng các cán bộ nghiên cứu trẻ.

Quy định giảng viên phải dành 30% thời gian cho nghiên cứu được giám sát như thế nào? Theo quy định của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 30% quỹ thời gian làm việc được quy đổi cụ thể ra giờ chuẩn nghiên cứu khoa học thông qua các sản phẩm như bài báo, giáo trình hoặc đề tài. Giảng viên không hoàn thành định mức trong 2 năm liên tiếp sẽ bị cắt quyền hướng dẫn thạc sĩ, nghiên cứu sinh và không được tham gia các hội đồng đánh giá luận văn.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc một số đề tài bị thu hồi kinh phí là gì? Nguyên nhân chủ yếu do đề tài có phạm vi nghiên cứu quá rộng trong khi giảng viên phải gánh tải giờ giảng quá lớn, thiếu nhân lực hỗ trợ. Tình trạng nghiên cứu đơn lẻ, không có nhóm phối hợp dẫn đến việc chậm tiến độ kéo dài, buộc nhà trường phải thu hồi 4 đề tài với kinh phí 43 triệu đồng nhằm siết chặt kỷ luật tài chính.

Làm thế nào để các nhóm nghiên cứu xã hội nhân văn tự chủ tài chính? Các nhóm nghiên cứu cần chủ động chuyển hướng từ việc thụ động chờ ngân sách nhà nước sang mô hình cung ứng dịch vụ tư vấn chính sách và thực hiện đơn đặt hàng từ các Sở Khoa học và Công nghệ địa phương. Điển hình như các trung tâm nghiên cứu Hàn Quốc học hay Đông Nam Á đã từng bước tự chủ thông qua các dự án hợp tác quốc tế.

Học viên sau đại học đóng vai trò gì trong cấu trúc nhóm nghiên cứu? Học viên sau đại học và nghiên cứu sinh đóng vai trò là lực lượng nghiên cứu thực địa, xử lý dữ liệu và trợ lý khoa học đắc lực cho các giáo sư đầu ngành. Việc đưa 1.700 học viên vào nhóm nghiên cứu vừa giúp nâng cao chất lượng luận văn vừa tạo nguồn nhân lực chất lượng cao kế cận cho nhà trường.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích sâu sắc bức tranh toàn cảnh về hoạt động nghiên cứu khoa học của 514 giảng viên tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 - 2009.
  • Hệ thống hóa các thành tựu nổi bật với 293 đầu sách xuất bản và hơn 150 đề tài các cấp, đồng thời chỉ rõ hạn chế về số lượng bài báo quốc tế và tình trạng trễ hạn nghiên cứu.
  • Khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ mô hình nghiên cứu cá nhân tự phát sang mô hình nhóm nghiên cứu khoa học có tổ chức chặt chẽ.
  • Cung cấp hệ thống giải pháp đồng bộ gồm hoàn thiện thể chế, tái cấu trúc định mức thời gian, gắn kết đào tạo sau đại học và mở rộng liên kết tài trợ quốc tế đến năm 2012.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ mục tiêu xây dựng Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thành trung tâm đại học nghiên cứu hàng đầu khu vực.

Các cơ sở giáo dục đại học và nhà quản lý khoa học cần nhanh chóng ứng dụng mô hình tổ chức nhóm nghiên cứu để bứt phá về chất lượng học thuật và năng lực hội nhập quốc tế ngay hôm nay.