Tổng quan nghiên cứu

Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vào đầu thập niên 1990 đã đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới quản lý khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Nghị định số 35/HĐBT ngày 28/01/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ra đời đã tạo tiền đề pháp lý then chốt, cho phép các cơ sở nghiên cứu thành lập các đơn vị tự trang trải tài chính. Trong giai đoạn 1992 - 1994, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thành lập gần 20 đơn vị hoạt động theo cơ chế này nhằm gắn kết hoạt động nghiên cứu với thực tiễn sản xuất.

Tuy nhiên, sau hơn 15 năm vận hành, mô hình tổ chức này bộc lộ nhiều hạn chế về cơ chế quản lý hành chính, sự gắn kết với viện chuyên ngành và hiệu quả kinh tế. Số lượng đơn vị thu hẹp từ 20 tổ chức thời kỳ đầu xuống còn 12 đơn vị vào năm 2008 do áp lực cạnh tranh và bất cập thể chế. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ thực trạng hoạt động, đánh giá vai trò và đo lường hiệu quả vận hành của các đơn vị thành lập theo Nghị định 35 tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Mục tiêu cụ thể của công trình là phân tích các kết quả đạt được về nhân lực, doanh thu, dịch vụ khoa học công nghệ; chỉ ra các điểm nghẽn quản lý; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tái cơ cấu tổ chức theo tinh thần Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và chuyển đổi sang doanh nghiệp khoa học công nghệ theo Nghị định số 80/2007/NĐ-CP. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 12 đơn vị tại khu vực Hà Nội và một số địa phương trong giai đoạn 1992 - 2010. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ thực tiễn giúp tối ưu hóa 618 nhân sự, chuyển dịch tỷ lệ nhân sự hưởng lương ngân sách từ 24,6% xuống dưới 10%, giảm áp lực tài chính công và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên lý thuyết chuyển đổi thể chế quản lý khoa học công nghệ từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng mô hình liên kết giữa nghiên cứu và triển khai (R&D) với hoạt động sản xuất xã hội thuộc Khoa học luận, khẳng định ý tưởng và công nghệ là mắt xích cốt lõi tạo ra giá trị gia tăng.

Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm:

  1. Khoa học: Hoạt động sản xuất tri thức và hệ thống hóa các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy.
  2. Công nghệ: Tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ và phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000.
  3. Hoạt động khoa học và công nghệ: Bao gồm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ.
  4. Đơn vị 35: Tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí, có tư cách pháp nhân và tài khoản riêng, thành lập theo Nghị định số 35/HĐBT ngày 28/01/1992.
  5. Doanh nghiệp khoa học và công nghệ: Tổ chức kinh tế vận hành theo Luật Doanh nghiệp, thương mại hóa trực tiếp kết quả nghiên cứu khoa học theo Nghị định số 80/2007/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các văn bản pháp quy từ năm 1981 đến năm 2008 như Quyết định số 175/CP, Quyết định số 134-HĐBT, Quyết định số 324-CT, Nghị định số 62/2008/NĐ-CP, cùng báo cáo tổng kết tài chính và nhân sự của các đơn vị trực thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn sâu các nhà quản lý tại Ban Tổ chức - Cán bộ, Ban Kế hoạch - Tài chính và lãnh đạo các đơn vị 35.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 12 đơn vị 35 thuộc 7 viện nghiên cứu chuyên ngành như Viện Khoa học vật liệu, Viện Cơ học, Viện Công nghệ môi trường, Viện Hóa học. Phương pháp chọn mẫu chủ đích được áp dụng nhằm bao quát đầy đủ 3 nhóm chức năng: đơn vị dịch vụ kỹ thuật, đơn vị nghiên cứu ứng dụng công nghệ và đơn vị sản xuất thử nghiệm. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích tài liệu kết hợp thống kê mô tả và phân tích định tính là nhằm làm sáng tỏ cả bức tranh thể chế vĩ mô lẫn hiệu quả tài chính vi mô trong suốt timeline nghiên cứu từ năm 1992 đến năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự dịch chuyển mạnh mẽ về quy mô tổ chức và cơ cấu nguồn nhân lực. Số lượng đơn vị giảm từ 20 đơn vị giai đoạn 1993 - 1995 xuống 16 đơn vị năm 2007 và còn 12 đơn vị năm 2008. Tổng số nhân lực năm 2007 là 618 người, trong đó số cán bộ hưởng lương ngân sách giảm mạnh từ 153 người (chiếm 24,6% năm 1993) xuống còn 58 người (chiếm 9,38% năm 2007). Ngược lại, số lao động hợp đồng do đơn vị tự chi trả tăng lên 560 người, chiếm 90,62%. Trình độ nhân lực duy trì ở mức cao với 24 tiến sĩ, 28 thạc sĩ và 218 kỹ sư.

Thứ hai, kết quả hoạt động tài chính và thương mại hóa có sự phân hóa sâu sắc giữa các đơn vị. Trung tâm Phát triển công nghệ cao đạt thành tích nổi bật khi ký kết 93 hợp đồng kinh tế trong giai đoạn 2003 - 2006 với tổng giá trị đạt hơn 16,76 tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước 827 triệu đồng, cung cấp thiết bị xử lý nước cho hơn 300 trạm cấp nước tại 40 tỉnh thành. Liên hiệp Khoa học sản xuất Công nghệ phần mềm đạt tổng doanh thu năm 2006 là 11,01 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế đạt 488,43 triệu đồng. Ngược lại, một số đơn vị gặp khó khăn lớn như Liên hiệp Khoa học sản xuất Vật liệu chịu lửa có doanh thu năm 2007 là 549 triệu đồng nhưng lợi nhuận sau thuế ghi nhận mức âm 21,19 triệu đồng.

Thứ ba, mô hình hoạt động phân chia thành ba nhóm rõ rệt: nhóm gắn liền mật thiết với chuyên môn của viện mẹ (như công nghệ môi trường, vật liệu kỹ thuật cao IFTECH), nhóm hoạt động tách rời chuyên ngành (như công nghệ phần mềm trực thuộc Viện Khoa học vật liệu), và nhóm sản xuất đơn thuần gặp khó khăn về nguồn việc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân tạo nên thành công của các đơn vị tiêu biểu là khả năng nhạy bén nắm bắt nhu cầu thị trường, chủ động đầu tư vào công nghệ ứng dụng có tính thương mại hóa cao như xử lý nước ngầm, chế tạo thiết bị y tế và xây dựng nhà máy thủy điện công suất 1,25 MW tại Trà My - Quảng Nam. Những đơn vị này đã vận dụng xuất sắc cơ chế tự chủ để đào tạo cán bộ trẻ, chi trả 100% lương cho nhân viên đi học nâng cao trình độ và cử 8 cán bộ đi học cao học trong và ngoài nước.

Tuy nhiên, các hạn chế bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ của khung pháp lý. Nghị định 35 ban hành năm 1992 sau hơn 15 năm đã không còn tương thích với Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000. Việc các đơn vị có con dấu và tài khoản riêng nhưng phụ thuộc cơ chế quản lý hành chính của viện chuyên ngành đã dẫn đến tình trạng thiếu gắn kết, lỏng lẻo trong giám sát tài sản công. Khi so sánh với các nghiên cứu của các chuyên gia đầu ngành tại Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, kết quả này khẳng định tính tất yếu của việc chuyển đổi mô hình sang doanh nghiệp khoa học công nghệ.

Dữ liệu tài chính và nhân sự của nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ biên chế nhà nước và lao động hợp đồng qua các năm 1993, 2007, kết hợp bảng ma trận đối sánh doanh thu - lợi nhuận giữa các đơn vị mũi nhọn và nhóm đơn vị suy giảm hiệu quả.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện tái cấu trúc và phân loại toàn diện mạng lưới 12 đơn vị hoạt động theo Nghị định 35. Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam cần chủ trì rà soát, phê duyệt phương án chuyển đổi ít nhất 60% các đơn vị có năng lực sản xuất kinh doanh tốt sang mô hình Doanh nghiệp khoa học và công nghệ theo Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, hoàn thành trong giai đoạn 2011 - 2013.

Thứ hai, sáp nhập và đưa các đơn vị nghiên cứu ứng dụng cốt lõi vào cấu trúc chính thức của viện chuyên ngành. Đối với các đơn vị dịch vụ phân tích, quan trắc và nghiên cứu triển khai chuyên sâu, viện chủ quản cần tiếp nhận và chuyển đổi tổ chức theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP để đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hoàn tất trước năm 2012.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản trị tài chính và cơ chế tạo động lực tại từng đơn vị. Ban lãnh đạo các đơn vị cần chủ động thiết lập quỹ phát triển khoa học công nghệ nội bộ, trích lập tối thiểu 15% đến 20% lợi nhuận sau thuế hàng năm để tái đầu tư trang thiết bị thí nghiệm; duy trì chính sách trả thù lao theo hiệu suất cho hơn 90% lao động hợp đồng nhằm giữ chân nhân lực chất lượng cao.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế và cơ chế hỗ trợ từ các cơ quan quản lý nhà nước. Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Tài chính cần ban hành quy định rõ ràng về định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước, tạo điều kiện cho các đơn vị tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ các quỹ đổi mới công nghệ, hướng tới mục tiêu nâng tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng khoa học cao lên trên 50% tổng doanh thu vào năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp bằng chứng thực tiễn về sự dịch chuyển thể chế, hỗ trợ quá trình sửa đổi chính sách tự chủ tài chính cho các tổ chức sự nghiệp công lập và hoàn thiện khung pháp lý về doanh nghiệp khoa học công nghệ.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các viện nghiên cứu quốc gia và các trường đại học. Các nhà quản lý có thể ứng dụng các bài học kinh nghiệm về phân cấp trách nhiệm, quản trị nhân sự hỗn hợp giữa biên chế và hợp đồng, giải quyết xung đột quản lý hành chính giữa cơ quan chủ quản và các trung tâm trực thuộc.

Nhóm thứ ba là giám đốc, nhà quản trị các đơn vị tự chủ, trung tâm R&D và doanh nghiệp khởi nguồn công nghệ. Luận văn mang lại các case study thực tế về quy trình thương mại hóa sáng chế từ phòng thí nghiệm ra thị trường, xây dựng mạng lưới khách hàng và tổ chức sản xuất thử nghiệm.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ, Quản lý công và Kinh tế phát triển. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị, cung cấp phương pháp luận khảo sát và dữ liệu lịch sử phong phú về quá trình đổi mới quản lý khoa học công nghệ tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Đơn vị thành lập theo Nghị định 35/HĐBT có đặc điểm gì nổi bật? Đây là mô hình tổ chức khoa học và công nghệ tự trang trải kinh phí, có tư cách pháp nhân và con dấu riêng, được thành lập từ năm 1992 nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất kinh doanh. Tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mô hình này từng thu hút hơn 600 nhân sự hoạt động năng động mà không phụ thuộc vào lương bao cấp từ ngân sách nhà nước.

Tại sao mô hình đơn vị 35 cần phải thực hiện chuyển đổi tổ chức? Sau hơn 15 năm vận hành, khung pháp lý của Nghị định 35/HĐBT đã không còn phù hợp với Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 và Luật Doanh nghiệp. Sự thiếu rõ ràng về phân cấp quản lý hành chính dẫn đến tình trạng buông lỏng quản lý, sản phẩm có hàm lượng khoa học thấp, đòi hỏi phải chuyển đổi sang cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP hoặc doanh nghiệp khoa học theo Nghị định 80/2007/NĐ-CP.

Tỷ lệ nhân sự hợp đồng chiếm trên 90% tại các đơn vị 35 phản ánh thực tế nào? Tỷ lệ 560 lao động hợp đồng trên tổng số 618 nhân sự năm 2007 cho thấy tính chủ động rất cao trong việc thu hút nhân lực xã hội và sinh viên xuất sắc. Cơ chế tự trang trải giúp đơn vị linh hoạt thay thế nhân sự yếu kém, loại bỏ tư tưởng ỷ lại biên chế, tạo động lực cạnh tranh mạnh mẽ thông qua chế độ thù lao theo hiệu quả công việc.

Những đơn vị nào hoạt động tiêu biểu và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất? Trung tâm Phát triển công nghệ cao là ví dụ tiêu biểu khi đạt hơn 16,76 tỷ đồng doanh thu qua 93 hợp đồng kinh tế và nộp ngân sách 827 triệu đồng trong 3 năm. Bên cạnh đó, Liên hiệp Khoa học sản xuất Công nghệ phần mềm cũng ghi nhận doanh thu trên 11,01 tỷ đồng năm 2006, đóng góp thiết thực cho quá trình ứng dụng công nghệ thông tin.

Lộ trình chuyển đổi tối ưu nhất cho các đơn vị 35 hiện nay gồm những bước nào? Lộ trình tối ưu bao gồm việc phân loại thành 3 nhánh: chuyển đổi các đơn vị có doanh thu ổn định thành doanh nghiệp khoa học công nghệ; sáp nhập các đơn vị dịch vụ kỹ thuật vào viện chuyên ngành theo cơ chế tự chủ công lập; và tiến hành giải thể các đơn vị thua lỗ kéo dài, hoàn thành tái cấu trúc trong giai đoạn 3 đến 5 năm.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện quá trình hình thành và phát triển của mạng lưới đơn vị thành lập theo Nghị định 35/HĐBT tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam qua hơn 15 năm đổi mới.
  • Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng tinh gọn tổ chức từ 20 đơn vị giai đoạn 1993 - 1995 xuống còn 12 đơn vị năm 2008, đồng thời phản ánh sự dịch chuyển tích cực khi tỷ lệ cán bộ hưởng lương ngân sách giảm xuống dưới mức 10%.
  • Bức tranh tài chính làm nổi bật vai trò cầu nối của các đơn vị tiêu biểu với hàng trăm hợp đồng kinh tế trị giá hàng chục tỷ đồng, phục vụ thiết thực đời sống kinh tế và xã hội.
  • Công trình đã chỉ ra nguyên nhân gốc rễ của những tồn tại về mặt thể chế quản lý hành chính, tình trạng phân tán nguồn lực và sự suy giảm hàm lượng khoa học trong một số sản phẩm.
  • Luận văn xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá nhằm chuyển đổi mô hình sang doanh nghiệp khoa học công nghệ và đơn vị tự chủ theo các quy định hiện hành.

Đóng góp lớn nhất của nghiên cứu là cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc phục vụ công tác quy hoạch phát triển Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam tầm nhìn 2020 - 2030. Các cơ quan quản lý cần khẩn trương triển khai lộ trình sắp xếp, chuyển đổi tổ chức trong giai đoạn 2011 - 2015. Hãy chủ động nghiên cứu và vận dụng các đề xuất của luận văn để thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự chủ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ tại Việt Nam.