lời mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: I. Cơ sở lý luận về hiệu quả của hoạt động kinh doanh và sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh xăng dầu tại Tổng công ty Petec. Thực trạng về hiệu quả kinh doanh xăng dầu tại Tổng công ty Petec giai đoạn 2011 – 2015. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh xăng dầu tại Tổng công ty Petec giai đoạn 2016 – 2020.
- Phƣơng pháp nghiên cứu Sử dụng phƣơng pháp tổng hợp, phân tích và so sánh. Các số liệu phục vụ quá trình nghiên cứu lấy từ báo cáo tổng kết kinh doanh năm 2011 – 2015, từ sách báo, tạp chí có liên quan tới luận văn. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH XĂNG DẦU TẠI TỔNG CÔNG TY PETEC 1.1 Quan điểm về hiệu quả và hiệu quả kinh doanh: 1.1 Quan niệm về hiệu quả: Hiệu quả là thuật ngữ dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Khi đề cập đến vấn đề hiệu quả có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem xét.
Nếu xét theo hiệu quả cuối cùng thì hiệu quả kinh tế là hiệu số giữa kết quả thu về và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó. Đứng trên góc độ này thì hiệu quả đồng nhất với phạm trù lợi nhuận. Hiệu quả kinh tế cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp (Nguyễn Cảnh Hiệp 2014). Chỉ tiêu hiệu quả là một chỉ tiêu chất lƣợng tổng hợp phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố tham gia quá trình sản xuất, kinh doanh đồng thời là phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng hóa, phản ánh trình độ của nền sản xuất hàng hóa, sản xuất hàng hóa có phát triển hay không là do hiệu quả đạt đƣợc cao hay thấp, chỉ tiêu hiệu quả phản ánh cả về mặt định lƣợng và cả về mặt định tính.
Về mặt định lƣợng, hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh phản ánh mối tƣơng quan giữa kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra. Về mặt định tính, nó phản ánh ảnh hƣởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết những yêu cầu về mục tiêu kinh tế và mục tiêu chính trị - xã hội. Khi đứng trên phạm vi khác nhau để xem xét vấn đề hiệu quả thì có thể chia hiệu quả ra nhiều loại khác nhau: - Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc gia để xem xét thì phạm vi hiệu quả sẽ là hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả chính trị. Cả hai hiệu quả này đều có vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội đất nƣớc.
Trong thời kỳ bao cấp, nƣớc ta coi trọng hai hiệu quả này trong hoạt động sản xuất kinh doanh. 4 Trong điều kiện hiện nay thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nƣớc bên cạnh việc đảm bảo hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh doanh cần phải chú ý đến hiệu quả kinh tế xã hội và hiệu quả chính trị. Đối với các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, các doanh nghiệp hoạt động đều nhằm mục đích hiệu quả kinh tế và hiệu quả kinh doanh, còn một số doanh nghiệp nhà nƣớc nhằm thực hiện một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế xã hội. - Nếu đứng trên phạm vi từng yếu tố, từng doanh nghiệp riêng lẻ thì có phạm trù hiệu quả kinh tế và phạm trù hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh tế là những lợi ích kinh tế đạt đƣợc sau khi bù đắp những khoản chi phí về lao động xã hội. Hiệu quả kinh tế xác định thông qua so sánh giữa các chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh và chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt đƣợc từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh chính là hiệu quả lao động xã hội đƣợc xác định bằng việc so sánh giữa lƣợng lao động hữu ích cuối cùng thu đƣợc với hao phí lao động xã hội. Nhƣ vậy đứng trên các khía cạnh khác nhau ngƣời ta có thể có quan điểm về hiệu quả khác nhau.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý khi giải quyết vấn đề hiệu quả cần phải có kết hợp hài hòa giữa lợi ích trƣớc mắt với lợi ích lâu dài, giữa lợi ích trung ƣơng với lợi ích địa phƣơng, giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể với lợi ích quốc gia.2 Hiệu quả kinh doanh 1.1 Hiệu quả kinh tế trong kinh doanh Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội: - Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu đƣợc từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Biểu hiện chung cho hiệu quả kinh tế cá biệt là doanh lợi mà mỗi doanh nghiệp đạt đƣợc. 5 - Hiệu quả kinh tế xã hội do kinh doanh đem lại là sự đóng góp của hoạt động kinh doanh để phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động, tăng ngân sách và cải thiện đời sống nhân dân. Giữa hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội có quan hệ nhân quả và tác động qua lại với nhau.
Hiệu quả kinh tế quốc gia chỉ có thể đạt đƣợc trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp nhƣ một tế bào của nền kinh tế, doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ đóng góp vào hiệu quả chung của nền kinh tế. Đó chính là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa lợi ích bộ phận với lợi ích tổng thể. Tính hiệu quả của nền kinh tế xuất phát từ chính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và một nền kinh tế vận hành tốt là môi trƣờng thuận lợi để doanh nghiệp hoạt động và ngày càng phát triển (Học Viện Tài chính, 2013).
Vì vậy, trong hoạt động kinh doanh, mỗi doanh nghiệp phải thƣờng xuyên quan tâm đến hiệu quả kinh tế - xã hội, đảm bảo lợi ích riêng hài hòa với lợi ích chung.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Tham gia vào hoạt động kinh tế, nói chung bất cứ đơn vị nào cũng hƣớng tới mục tiêu lợi nhuận. Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng các doanh nghiệp theo đuổi. Với một đồng vốn bỏ vào kinh doanh, ai cũng muốn nó mang lại nhiều lợi nhuận nhất. Muốn đạt đƣợc điều đó, các doanh nghiệp không ngừng đầu tƣ cho nghiên cứu thị trƣờng, thay đổi quy trình, công nghệ, cải tiến sản phẩm, cắt giảm chi phí sản xuất, cũng nhƣ các chi phí liên quan…Tất cả những điều đó, nói một cách khác là sự sắp xếp, hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh.
“Hiệu quả kinh doanh” là một thuật ngữ để đánh giá, xem xét mức độ hợp lý hóa quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Dƣới nhiều góc độ khác nhau, có rất nhiều quan điểm, ý kiến về thuật ngữ “hiệu quả kinh doanh” này. Có thể kể đến một số quan điểm sau đây: Quan điểm thứ nhất cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt đƣợc trong hoạt động kinh doanh, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” (Nguyễn Thị Hƣờng 2003, tr. Quan điểm đã thể hiện đƣợc mối liên hệ giữa doanh thu và hiệu quả kinh 6 doanh.
Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh là nhƣ nhau nếu các hoạt động kinh doanh cùng mang lại một mức doanh thu. Có thể thấy, trên thực tế để mang lại cùng một mức doanh thu nhƣng doanh nghiệp phải có sự đầu tƣ khác nhau cho các hoạt động khác nhau. Mức đầu tƣ đó chính là chi phí doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt đƣợc doanh thu. Chƣa phản ánh đƣợc điều này chính là hạn chế của quan điểm trên về hiệu quả kinh doanh.
Quan điểm thứ hai cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí” (Nguyễn Thị Hƣờng 2003, tr. So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này đã thể hiện đƣợc mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí. Nó phản ánh đƣợc trình độ sử dụng đồng vốn tăng thêm của doanh nghiệp, trên cơ sở đó giúp doanh nghiệp ra quyết định có nên đầu tƣ mở rộng hoạt động đó hay không. Mặc dù vậy, quan điểm này vẫn còn hạn chế nhất định, đó là việc nó mới chỉ phản ánh mối liên hệ giữa chi phí và doanh thu bổ sung mà chƣa phản ánh đƣợc mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí ban đầu.
Mà trên thực tế, ban đầu doanh nghiệp phải bỏ vốn đầu tƣ tới một ngƣỡng nhất định mới có thể có doanh thu bƣớc đầu. Quan điểm thứ ba cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một đại lƣợng so sánh giữa kết quả thu đƣợc và chi phí bỏ ra để có đƣợc kết quả đó” (Nguyễn Thị Hƣờng, 2003, tr. Quan điểm này đã phản ánh đƣợc mối liên hệ giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh chính là lợi nhuận thu đƣợc từ hoạt động đó.
So với hai quan điểm trên, quan điểm này đã phản ánh đƣợc mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh doanh. Quan điểm này cho thấy, với những hoạt động khác nhau, với cùng một lƣợng vốn bỏ ra mà thu về cùng một lƣợng giá trị thì các hoạt động kinh doanh đó đã có hiệu quả nhƣ nhau. Nhƣng trên thực tế, điều này là không chính xác. Quan điểm về hiệu quả kinh doanh này chƣa thể hiện đƣợc vai trò của các yếu tố khác nhƣ thời gian thu đƣợc kết quả, quy mô hoạt động… Đây cũng chính là hạn chế của quan điểm này.
Quan điểm thứ tƣ cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phản ánh mối liên hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí bỏ ra để đạt 7 kết quả đó, đồng thời phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất” (Nguyễn Thị Hƣờng 2003, tr. Về cơ bản, quan điểm này đã phản ánh đƣợc mối liên hệ bản chất về hiệu quả kinh doanh giữa doanh thu và chi phí cũng nhƣ sự vận động của hai yếu tố này, đồng thời còn phản ánh đƣợc trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp.