Lời mở đầu 4 Phần 2: Cơ sở lý luận chung về công ty chứng khoán và hiệu quả hoạt động kinh doanh tại công ty chứng khoán Phần 3: Số liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần Chứng khoán Tân Việt Phần 5: Kết luận 5 PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 2.1 Cơ sở lý luận chung về công ty chứng khoán 2.1 Khái niệm công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một chủ thể vô cùng quan trọng, một trong những thành viên chủ chốt của TTCK. Trải qua hơn 20 năm thành lập và phát triển, các CTCK đã từng bước khẳng định vị thế vững chắc của mình trong nền kinh tế nước nhà. Tại Việt Nam, khái niệm về CTCK được biết đến dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau như: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán”. (Theo khoản 1, Điều 2, Nghị định 86/2016/NĐ-CP) “Công ty chứng khoán là tổ chức hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chứng khoán thông qua việc thực hiện một hoặc một vài dịch vụ chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi nhuận”.
(Theo giáo trình Kinh doanh Chứng khoán của Học viện Ngân Hàng) Tóm lại, dù dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng CTCK vẫn mang nét riêng đặc thù của nó, ta có thể hiểu CTCK là tổ chức có tư cách pháp nhân, được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật, là một tổ chức trung gian tài chính thực hiện các hoạt động như môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành, quản lý danh mục đầu tư, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư để đạt được mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.2 Mô hình tổ chức của công ty chứng khoán Với vai trò quan trọng là một tổ chức tài chính trung gian trên thị trường chứng khoán - thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thị trường, CTCK được xây dựng và phát triển rất đa dạng về loại hình và quy mô. - Mô hình công ty chứng khoán đa năng: theo mô hình này, các ngân hàng thương mại hoạt động với tư cách là chủ thể kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ. Mô hình này chia làm hai loại: 6 + Loại đa năng một phần: các ngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải lập công ty độc lập hoạt động tách rời. + Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm bên cạnh kinh doanh tiền tệ.
- Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh: theo mô hình này, hoạt động chuyên doanh chứng khoán sẽ do công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia kinh doanh chứng khoán. Ngày nay với sự phát triển của thị trường chứng khoán, để tận dụng thế mạnh của lĩnh vực tiền tệ và lĩnh vực chứng khoán, các quốc gia có xu hướng nới lỏng ngăn cách giữa hoạt động tiền tệ và chứng khoán, bằng cách cho phép hình thành công ty đa năng một phần, các ngân hàng thương mại thành lập công ty con để chuyên kinh doanh chứng khoán.3 Đặc thù kinh doanh của công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là loại hình công ty kinh doanh có điều kiện, mang tính chất đặc thù riêng biệt, chỉ có thể được cấp phép HĐKD khi đáp ứng được các quy định của luật định. Dưới đây là các đặc điểm khác biệt giữa CTCK so với loại hình doanh nghiệp khác: Thứ nhất, về lĩnh vực và ngành nghề kinh doanh Công ty chứng khoán có thể thực hiện nhiều nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán nếu có đủ điều kiện và được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép cho những hoạt động đó. Hoạt động kinh doanh chính, thường xuyên và mang tính nghề nghiệp là kinh doanh chứng khoán, gồm một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ như: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán; bên cạnh những nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thì CTCK còn được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chính khác.
Thứ hai, đặc điểm về vốn Doanh nghiệp muốn kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thì phải có vốn đã góp tại thời điểm thành lập công ty tối thiểu bằng mức vốn pháp định theo quy định cho từng nghiệp vụ như sau: Môi giới chứng khoán: 25 tỷ đồng Việt Nam Tự doanh chứng khoán: 100 tỷ đồng Việt Nam 7 Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 165 tỷ đồng Việt Nam Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng Việt Nam (Theo khoản 1,2 Điều 71, Nghị định 58/2012/NĐ-CP) Ngoài ra, đối với trường hợp doanh nghiệp có đề nghị cấp phép cho nhiều nghiệp vụ kinh doanh thì số vốn điều lệ tối thiểu là tổng số vốn tương ứng với từng nghiệp vụ theo đề nghị cấp phép. Thứ ba, về đội ngũ lãnh đạo Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải có kiến thức chuyên môn, có đạo đức trong kinh doanh, không vi phạm pháp luật và có trình độ quản lý. Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo ở các công ty chứng khoán cũng vậy. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực chứng khoán, ngoài những yêu cầu trên, đội ngũ lãnh đạo ở các CTCK còn phải có chứng chỉ hành nghề và có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩm quyền cấp.
Và yêu cầu đối với đội ngũ lãnh đạo là trình độ học vấn và kinh nghiệm công tác phải cao hơn đội ngũ nhân viên. Thứ tư, về trụ sở làm việc Có trụ sở làm việc đảm bảo cho hoạt động kinh doanh chứng khoán. Và có đủ cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị văn phòng, hệ thống công nghệ phù hợp với quy trình nghiệp vụ về hoạt động kinh doanh chứng khoán. Thứ năm, quy định về nhân sự Có Tổng giám đốc (Giám đốc), tối thiểu 03 nhân viên có chứng chỉ hành nghề chứng khoán phù hợp cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán đề nghị cấp phép và tối thiểu 01 nhân viên kiểm soát tuân thủ.
Tổng giám đốc (Giám đốc) phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây: + Không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chấp hành án phạt tù hay bị cấm hành nghề chứng khoán theo quy định của pháp luật. + Có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm làm việc tại bộ phận nghiệp vụ của các tổ chức trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm hoặc tại bộ phận tài chính, kế toán, đầu tư trong các doanh nghiệp khác. + Có chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính hoặc chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ. + Không bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK trong thời hạn 06 tháng gần nhất tính đến thời điểm nộp hồ sơ.
8 (Theo khoản 5, Điều 74 Luật Chứng Khoán 2019) Thứ sáu, quy định về cơ cấu cổ đông và thành viên góp vốn Có tối thiểu 02 cổ đông sáng lập, thành viên góp vốn là tổ chức. Trường hợp công ty chứng khoán được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, chủ sở hữu phải là doanh nghiệp bảo hiểm hoặc ngân hàng thương mại hoặc tổ chức nước ngoài. (Khoản 2, điều 77 Luật chứng khoán 2019) Tỷ lệ góp vốn của các tổ chức tối thiểu là 65% vốn điều lệ trong đó các tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm sở hữu tối thiểu 30% vốn điều lệ. Cổ đông, thành viên góp vốn là tổ chức phải có tư cách pháp nhân và đang hoạt động hợp pháp, HĐKD có lãi trong 2 năm liền trước năm đề nghị cấp giấy phép.
Cổ đông thành viên góp vốn sở hữu từ 10% trở lên vốn điều lệ của 1 công ty chứng khoán và người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó (nếu có) không sở hữu trên 5% vốn điều lệ của một CTCK khác. Thứ bảy, công ty chứng khoán bị kiểm soát về hoạt động Các hoạt động của CTCK bị kiểm soát chặt chẽ bởi Sở Giao dịch Chứng khoán và UBCKNN. Các CTCK thường xuyên phải có những giải trình, báo cáo hàng tuần hay phải thông báo cho các cơ quan kiểm soát khi có những giao dịch bất thường. Định kỳ hàng tháng, CTCK phải báo cáo UBCKNN về tỷ lệ vốn khả dụng.
UBCKNN sẽ quyết định để tổ chức kinh doanh chứng khoán vào tình trạng an toàn hay kiểm soát tương ứng theo quy định an toàn tối thiểu của Bộ Tài Chính. Các tình trạng kiểm soát được đặt ra nhằm bảo đảm CTCK thực hiện đúng chức năng của mình, đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro cho CTCK, NĐT cũng như toàn thị trường. Thứ tám, tình trạng xung đột lợi ích về quyền lợi của khách hàng và CTCK Các CTCK có thể gây ra xung đột về lợi ích giữa các nhóm chủ thể tham gia thị trường. Những hoạt động mà CTCK tiến hành có thể dẫn tới xung đột lợi ích là hoạt động môi giới, tự doanh và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Đặc điểm này tạo ra sự khác biệt trong hoạt động của CTCK trên TTCK so với các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực khác. Thứ chín, công ty chứng khoán là trung gian tài chính 9 Các CTCK tham gia TTCK với vai trò là một trung gian tài chính trong các hoạt động như giao dịch, thanh toán, làm trung gian rủi ro, trung gian truyền thông tin. Thông qua vai trò đó, CTCK giúp người mua và người bán dễ dàng thực hiện giao dịch với những thông tin đáng tin cậy, giảm thiểu rủi ro phát sinh do bất cân xứng thông tin, đồng thời rút ngắn thời gian cũng như chi phí giao dịch, làm tăng tính thanh khoản trên thị trường.4 Vai trò của công ty chứng khoán 2.1 Đối với tổ chức phát hành Mục tiêu khi tham gia vào thị trường chứng khoán của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các công ty chứng khoán có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán là nguyên tắc trung gian.