Chương 1 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ 1.1 TỔNG QUAN VỀ THANH TRA, KIỂM TRA THUẾ CỦA CƠ QUAN THUẾ 1.1 Khái niệm thanh tra, kiểm tra thuế Kiểm tra, thanh tra thuế là hoạt động giám sát của cơ quan thuế đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế nhằm đảm bảo pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống kinh tế – xã hội. Theo pháp luật quản lý nước ta: + Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên, mang tính nhiệm vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở cơ quan quản lý thuế dựa trên hồ sơ khai thuế của người nộp thuế. Việc kiểm tra thuế được thực hiện tại trụ sở của người nộp thuế, chỉ thực hiện khi họ không tự giác sửa đổi, bổ sung những nội dung sai sót mà cơ quan thuế đã kiểm tra, phát hiện và yêu cầu. Nội dung kiểm tra thuế là kiểm tra tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thuế của người nộp thuế trong việc kê khai thuế.
+ Thanh tra thuế là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức cao hơn, hoan thiện hơn. Thanh tra thuế được thực hiện định kì đối với các đối tượng nộp thuế lớn, ngành nghề kinh doanh đa dạng, quy mô lớn hoặc với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và thanh tra thuế để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng bộ Tài chính. Giữa thanh tra thuế và kiểm tra thuế tồn tại mối quan hệ sau: Thanh tra thuế cũng là một hoạt động của kiểm tra thuế nên thanh tra thuế và kiểm tra thuế có những điểm giống nhau: - Thanh tra kiểm tra thuế đều là một nội dung quan trọng của quản lý thuế, đều có cùng một mục đích phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm pháp luật 4 thuế, góp phần thúc đẩy các tổ chức, cá nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật thuế, góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân. - Chủ thể kiểm tra thuế, thanh tra thuế là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật, thường là cơ quan thuế.
- Đối tượng kiểm tra, thanh tra thuế là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước và các đơn vị trong nội bộ ngành thuế. - Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế là việc chấp hành pháp luật thuế. - Về phương pháp, kiểm tra thanh tra thuế đều xem xét hoạt động thực tế của đối tượng để phát hiện, phân tích, đánh gái thực trạng đối tượng một các chính xác, khách quan, làm rõ đúng, sai, chỉ rõ nguyên nhân để có biện pháp khắ phục, xử lý vi phạm. - Hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế không chỉ được thực hiện ở một giai đoạn trong hoạt động quản lý thuế mà nó được thực hiện ở tất cả các giai đoạn của quản lý thuế.
Tuy nhiên giữa thanh tra và kiểm tra thuế cũng có sự khác nhau nhất định: - Thứ nhất, chủ thể của thanh tra thuế không đồng nhất với đối tượng thanh tra thuế nhưng chủ thể của kiểm tra thuế có thể không đồng nhất hoặc đồng nhất với đối tượng kiểm tra, chẳng hạn tự kiểm tra nội bộ thì chủ thể kiểm tra và đối tượng kiểm tra là đồng nhất. - Thứ hai, tính chất thanh tra thuế là một hoạt động dựa vào quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước. Kiểm tra là hoạt động trung tính, có thể là hoạt động quyền lực của cơ quan quản lý Nhà nước có thể chỉ là hoạt động quản lý đơn thuần. - Thứ ba, nội dung hoạt động thanh tra thuế thường là kiểm tra ở giai đoạn sau, khi các nghiệp vụ kinh tế đã pháp sinh.
Nội dung thanh tra thuế thường là những vấn đề phức tạp, bản chất vấn đề thường được che dấu có chủ ý nên khó nhận biết. Nội dung kiểm tra thuế thường là những vấn đề hiện tại, dễ nhận biết. Tát nhiên, nội dung kiểm tra bao gồm cả những nội dung cụ thể của kiểm tra trước, kiểm tra trong và kiểm tra sau khi các hoạt động kinh tế phát sinh. 5 - Thứ tư, do mức độ nghiêm trọng của sự việc cần thanh tra, nên thời gian để tiến hành mọt cuộc thanh tra thuế thường dài hơn một cuộc kiểm tra thuế.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra các nhận xét sau: Mặc dù có những điểm khác nhau nhưng thanh tra thuế và kiểm tra thuế đều là những hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý thuế. Việc phân biệt thanh tra thuế và kiểm tra thuế không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành để tránh sự chồng chéo giữa thanh tra và kiểm tra, giảm phiền hà cho các tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra và kiểm tra. Mục đích, yêu cầu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Thanh tra, kiểm tra thuế là một chức năng thiết yếu trong quản lý thuế. Đặc biệt, trong bối cảnh áp dụng cơ chế tự kê khai, tự nộp thuế, vai trò của công tác thanh tra, kiểm tra thuế càng trở nên quan trọng.
Để phát huy được vai trò công tác thanh tra, kiểm tra cần phải hướng vào những mục đích sau đây: + Phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hiện tượng trốn lậu thuế, xâm tiêu tiền thuế, dây dưa nợ đọng thuế đối với các ĐTNT và cơ quan thu thuế. + Phát hiện những điểm bất hợp lý, chồng chéo giữa những kẽ hở trong các luật, pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện để kịp thời bổ sung, sửa đổi xác lập căn cứ cải tiến hệ thống tổ chức, đổi mới công tác thu thuế nhằm đạt hiệu quả cao. + Điều tra xác minh, làm sáng tỏ những vấn đề mà dư luận xã hội quan tâm, đơn thư tố giác của quần chúng nhân dân. - Yêu cầu của công tác thanh tra, kiểm tra thuế Thanh tra, kiểm tra thuế là hoạt động có tính pháp lý cao, liên quan đến lợi ích kinh tế và chính trị của nhiều đối tượng trong xã hội.
Vì vậy, công tác thanh tra kiểm tra đòi hỏi phải đảm bảo yêu cầu: 6 + Thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo tính chính xác, khách quan trung thực, xử lý đúng tội, không bao che, không quy chụp cho các đối tượng được thanh tra kiểm tra đảm bảo sự tin tưởng của quần chúng nhân dân. + Thanh tra, kiểm tra thuế phải dựa vào pháp luật và chỉ tuân thủ theo pháp luật, phải coi pháp luật là cơ sở pháp lý, là chuẩn mực để kết luận vấn đề, tránh biểu hiện chủ quan, tùy tiện trong công tác xử lý. + Thanh tra, kiểm tra thuế phải đảm bảo công khai, dân chủ kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất để quần chúng nhân dân tham gia đóng góp ý kiến.3 Nguyên tắc hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế - Phải tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật Không được làm trái các quy định của pháp luật là nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế. Nguyên tắc này đòi hỏi các đơn vị, cá nhân tham gia quá trình Thanh tra, kiểm tra thuế chỉ được thực hiện những quyền mà pháp luật cho phép và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
Mọi hành vi lạm quyền hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đều bị coi là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật và đều phải bị xử lý. Thực hiện nguyên tắc này chủ thể thanh tra ( cơ quan, đoàn thanh tra và các tahnhf viên ) khi thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phải căn cứ vào các quy địn của pháp luật để kết luận, kiến nghị của mình. Đối tượng Thanh tra, kiểm tra phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của chủ thể Thanh tra, kiểm tra, cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu và giải trình số liệu khi được yêu cầu. 7 - Bảo đảm tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời Tính chính xác đòi hỏi chủ thể Thanh tra, kiểm tra phải nhận thức đúng vấn đề, nội dung thanh tra, kiểm tra, xác định, đánh giá chính xác bản chất của sự việc để kết luận Thanh tra, kiểm tra chính xác.
Tính chính xác bảo đảm cho hoạt động Thanh tra, kiểm tra thuế đạt hiệu quả cao. Muốn bảo đảm tính chính xác, không chỉ đồi hỏi quan điểm đúng đắn mà còn cần phải có kiến thức, năng lực mới có thể đem lại kết quả chính xác. Tính khách quan yêu cầu chủ thể Thanh tra, kiểm tra phải phản ánh đúng sự vật, hiện tượng như nó vốn có, không được lồng ý kiến chủ quan khi ô tả sự vật, hiện tượng. Tính khách quan và tính chính xác có mối quan hệ tác động qua lại.
Tính khách quan tạo tiền đề cho việc kết luận chính xác và kết luận Thanh tra, kiểm tra có tính chính xác mới thể hiện được tính khách quan của hoạt động Thanh tra, kiểm tra. Tính trung thực đòi hoit chủ thể Thanh tra, kiểm tra phải tuan thủ các quy tắc về đạo đức nghề nghiệp, phản ánh đúng thực tế sự việc, không thiên lệch,bóp méo sự việc dẫn đến kết luận không đúng thực tế. Tính công khai thể hiện ở chỗ chủ thể Thanh tra, kiểm tra phải thông báo đầy đủ, công khai từ nội dung, kế hoạch, quyết định Thanh tra, kiểm tra đến kết luận Thanh tra, kiểm tra, kiểm tra để các tổ chức, cá nhân liên quan biết, giám sát và phối hợp thực hiện. Việc công khai hoạt động Thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao tính khách quan của hoạt động Thanh tra, kiểm tra hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình Thanh tra, kiểm tra.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, tùy tính chất của cuộc Thanh tra, kiểm tra cụ thể, cần có hình thức, mức độ công khai phù hợp để đảm bảo hiệu quả hoạt động Thanh tra, kiểm tra. Tính dân chủ nhằm tạo cơ hội cho đối tượng Thanh tra, kiểm tra được trình bày ý kiến, quan điểm về những nội dung Thanh tra, kiểm tra cũng như về hoạt động của đoàn Thanh tra, kiểm tra cụ thể, tránh tình trạng áp đặt của chủ thể Thanh tra, kiểm tra.