Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TĂNG TRUONG KINH TE 1. Tăng trưởng kinh tế “Tăng trưởng kinh tế là một trong những vấn đề cốt lõi của lý thuyết về phát triển kinh tế và hiện đang là vấn đẻ thời sự được quan tâm bởi nhiều đối tượng khác nhau từ nhà nghiên cứu, chính trị hay người dân và doanh nghiệp. Đây là một khái niệm tiền đề, là nền tảng của nhiều mối quan hệ khác góp phần tạo nên các mối quan hệ đa chiều của xã hội. Các mối quan hệ đó có thể bao.
gồm: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, tăng trưởng. kinh tế và văn hóa, tăng trưởng kinh tế và môi trường, tăng trưởng kinh tế và tham nhũng. Do đó, việc nắm rõ các khái niệm cũng như các lý luận và lý thuyết về tăng trưởng kinh tế sẽ góp phần nghiên cứu một cách có hệ thống hơn về mối quan hệ của tăng trưởng kinh tế với các khái niệm và phạm trủ khác; để. từ đó góp phẩn hài hòa khái niệm này với các khái niệm và phạm trù khác.
Có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng phần lớn đều cho ring: Tang trưởng kinh tế là một phạm trà kinh tế, nó phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đi của nên kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kỳ này so với thời kỳ trước đó. Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng. Qui mô tăng trướng phản ánh sự gia tăng lên hay giảm ải, nhiều hay í; còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hay các thời kỳ. Đề đo lường tăng trưởng kinh tế người.
ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: Phần tăng, giảm quy mô của nên kinh tế (tinh theo GDP), hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP). Tương tự như vậy Bùi Quang Bình (2010) cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về quy mô sản lượng của nền kinh tế (GDP) hay sản lượng. của nền kinh tế tính trên đầu người (GDP/người) qua một thời gian nhất định. Thường được phản ánh qua mức tăng trưởng và tỷ lệ tăng trưởng ”[1].
Có hai điểm chung nhất trong các khái niệm: (1) Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân thực tế chứ không phải là thu nhập danh nghĩa, do đó cần phải điều chỉnh lạm phát khi tính toán. mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người lại phụ thuộc vào quy mô. sản lượng của nên kinh tế và dân số quốc gia. Nếu sự gia tăng của cả hai yếu tố này khác nhau sẽ làm cho quy mô sản lượng của nền kinh tế tính trên đầu người thay đối.
Do vay trong nhiều trường hợp, thu nhập bình quân đầu người không hề được cải thiện mặc dù có mức tăng trưởng dương. Chất lượng tăng trưỡng kinh tế Sự gia tăng sản lượng GDP hay GDP/người của nền kinh tế chỉ mới phản ánh mặt lượng của tăng trưởng. Thực tiễn, sự gia tăng quy mô sản lượng. của nhiều nền kinh tế gần đây đặt ra những vấn đề quan trọng cần phải được nghiên cứu, đó là: Tăng trưởng không ổn định, dễ biến động, lang phi nguồn lực, bất bình đẳng ngày cảng lớn, tai nguyên môi trường bị khai thác cạn kiệt cùng với tình trạng ô nhiễm môi trường nặng nề.
Vì thế người ta bắt đầu chú trọng hơn việc én định tăng trưởng nhằm duy trì trong dài hạn hay nâng cao chất lượng tăng trưởng. Các nhà kinh tế học trước đây, tuy chưa nêu khái niệm đầy đủ vẻ chất lượng tăng trưởng nhưng cũng đã nhấn mạnh sự tăng trưởng ồn định, chắc chắn được tạo ra bởi tăng năng suất lao động, nâng cao khả năng cạnh tranh. trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh nhu Ricardo (1821), tiến bộ kỹ thuật từ Kark Marx (1867), hay Kaldor (1961) [7], [13], [17] Theo Mankiw (2000) ting trưởng có chất lượng là khi sự tăng trưởng đó có thể duy trì trong dài hạn, khi nó dựa vào tiến bộ kỹ thuật thể hiện qua hiệu quả của lao động, nghĩa là chất lượng tăng trưởng thẻ hiện qua sự đóng. góp của yếu tố tiến bộ ngày cảng lớn [16].
Sau này Sung Sang Park (1992) phát triển và cho rằng tăng trưởng có chất lượng khi sự gia tăng GDP đó dựa vào vốn con người của lao động chứ không chỉ là vốn sản xuất. Nghĩa là chú trọng gia tăng GDP trên khía cạnh chiều sâu. Khác với tăng trưởng theo chiều rộng là tăng trưởng dựa vào vốn, tăng lao động và tăng cường khai thác tài nguyên. Tăng trưởng theo chiều sâu, thê hiện ở tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng vốn sản xuất được.
nâng cao với thước đo tổng hợp năng suất các nhân tổ tổng hợp (TEP) tăng lên [9]. Theo các nhà kinh tế học thuộc trường phái này như Lucas (1993), Sen (1999). (đã nêu ở phần tổng quan) thì đối với các nước đang phát triển yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng vẫn là chủ đạo. Như vậy, chất lượng tăng trưởng được quan niệm theo nguồn gốc tăng trưởng.
Theo đó, đề tăng trưởng. có hiệu quả kinh tế cao, cần đầu tư nâng cao chất lượng ngành giáo dục, dio tạo, khoa học công nghệ, nghiên cứu triển khai [15], [18]. Quan điểm của Zhao Guohao (2006), Joseph E.Stiglit (2002) cũng như quan điểm của các giáo sư kinh tế thuộc nhiều trường đại học ở Mỹ cho rằng: Tăng trưởng có chất lượng khi cơ cấu kinh tế được đảm bảo. Trong cơ cấu kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế rất được xem trọng.
Tính hợp lý của quan niệm nây là coi chất lượng sự vật là sự biến đổi cơ cấu bên trong của sự vật, không. gắn chất lượng sự vật với mục đích tồn tại, bối cảnh, môi trường, điều kiện mà sự ật tồn tại. Cơ cấu ngành là tương quan giữa các ngành trong tông thể kinh tế, thể hiện mối quan hệ hữu cơ và sự tác động qua lại lẫn nhau cả về lượng. và chất giữa các ngành.
Để làm rõ hơn tác động của các ngành tới sự tăng. trưởng của nền kinh tế cần thiết nghiên cứu thêm cơ cấu tăng trưởng. Cơ cấu 10 tăng trưởng thể hiện ở chỉ tiêu điểm phần trăm đóng góp của các ngành vào tăng trưởng và chỉ tiêu tỷ trọng đóng góp của mỗi bộ phận trong 100% mức. tăng trưởng.
Cơ cấu tăng trưởng có thẻ xét theo khu vực thể chế, thảnh phần kinh tế, vùng, miễn và theo yếu tố sản xuất: vốn, lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp -TEP [15], [18], [20]. “Trước đây có một số lý thuyết kinh tế đã khẳng định mói gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu ngành kinh tế và mức độ phát triển của nền kinh tế. Tiêu biểu nhất là lý thuyết “cất cánh” của Rostow. Rostow đã tổng hợp theo lịch sử các giai đoạn phát triển trong hiện đại thành 5 giai đoạn, đó là: Giai đoạn “xã hội truyền thống”, giai đoạn “chuẩn bị cất cánh”, giai đoạn “cắt cánh”, giai đoạn “trưởng thành” và giai đoạn “tiêu dùng cao”.
Ứng với mỗi giai đoạn có những đặc trưng riêng được dễ dàng nhận biết qua sự thay đổi của cơ cấu ngành kinh tế với quy luật chung là khi nền kinh tế đạt trạng thái phát triển cảng cao thì tỷ trọng ngành nông nghiệp trong tổng sản phẩm càng thấp, dần nhường chỗ cho các ngành công nghiệp và dịch vụ. Một lý thuyết khác đó là lý thuyết về thay đổi cơ cấu của Hollis Chenery, dựa vào nghiên cứu về sự thay đổi của thu nhập bình quân đầu người ứng với các giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nhiều nước trên thé giới. Ông đưa ra kết luật ÿ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm dé trọng công nghiệp có xu hướng tăng dẫn ứng với GDP/người tăng dẫn Gần đây, vấn đề chất lượng tăng trưởng được bàn kỹ hơn về mặt xã hội như: Quan niệm của Rizwanul (nhà kinh tế thuộc tổ chức ILO) và các nhà kinh tế học của tổ chức OXFAM. Phúc lợi xã hội không chỉ thể hiện ở thu nhập bình quân đầu người mà còn là chất lượng cuộc sống, môi trường xã hội, môi trường tự nhiên, cơ hội học tập và chăm lo sức khỏe, v.
Nếu quá quan tâm đến tăng trưởng mà ít chú ý đến công bằng xã hội sẽ dẫn đến tình trạng. " bắt ôn của xã hội và tăng trưởng không bền vững: ngược lại, nếu quá đề cao. công bằng xã hội thì sẽ giảm động lực thúc đây tăng trưởng. Sự kết hợp hải hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội sẽ tạo ra chất lượng của tăng.
trưởng kinh tế. 'Vấn đề chất lượng tăng trưởng kinh tế được các nhà nghiên cứu kinh tế xem xét theo nhiều góc độ khác nhau. Một số cho rằng, tăng trưởng có chất lượng khi chất lượng tăng trưởng được nâng cao, đảm bảo những yêu cầu đặc trưng chủ yếu như: Phát huy được lợi thế so sánh nhằm tăng trưởng nhanh và đạt hiệu quả kinh tế cao, đẩy mạnh xuất khẩu; tăng nhanh được năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ và tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ và cải thiện môi trường (Lê Huy Đức - 2004) [5] Chất lượng tăng trưởng được tiến hành đánh giá theo: (1) chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (2) hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào đặc biệt là đóng. góp của năng suất các nhân tố tổng hop - TFP vào tăng trưởng; (3) khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế; (4) phân phối thành quả tăng trưởng; (S) tăng trưởng đi đôi với bảo vệ tải nguyên môi trường (Nguyễn Văn Nam và Trần Thọ Đạt - 2006) [8].
Hay đánh giá chất lượng tăng trưởng đưới góc độ hiệu quả sản xuất bằng cách ước lượng mức độ đóng góp của các yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất (vốn, lao động, tiến bộ công nghệ) tới tăng trưởng. kinh tế của Việt Nam (Nguyễn Hữu Hiểu - 2009) [6]. Bùi Quang Bình (2010) nhắn mạnh chất lượng tăng trưởng trên góc cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; trong đó xem xét toàn diện co cấu ngành, các yếu tố sản xuất Ll] Nguyén Dinh Cir (2010) tap trung vào khía cạnh khai thác và sử dung nguồn nhân lực chất lượng cao [3] 12 Nhìn chung chất lượng tăng trưởng được các nhà kinh tế đề cập theo nhiều. góc độ và khía cạnh khác nhau nhưng có cùng những điểm chung nhất định.