Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại, ngành dệt may Việt Nam giữ vị trí là một trong những ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu và giải quyết việc làm cho xã hội. Tuy nhiên, sự gia nhập của nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cùng áp lực từ các đối thủ quốc tế đã tạo ra môi trường cạnh tranh khốc liệt. Để tồn tại và khẳng định vị thế, doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh về giá cả mà chất lượng sản phẩm trở thành yếu tố mang tính sống còn.

Nhà máy May Dung Quất là chi nhánh trực thuộc Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng, chuyên sản xuất và gia công xuất khẩu các mặt hàng may mặc, trong đó dòng sản phẩm chủ lực là quần tây nam với đối tác xuất khẩu chính là khách hàng Kizan cùng các thị trường như Mỹ, Đài Loan. Mặc dù nhà máy đã có những nỗ lực trong việc mở rộng quy mô và cải tiến kỹ thuật, quá trình tổ chức sản xuất và công tác kiểm soát chất lượng tại đơn vị vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Thực tế ghi nhận sản phẩm vẫn phát sinh lỗi, khuyết tật ở các công đoạn, làm phát sinh chi phí chất lượng không phù hợp, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu và uy tín của nhà máy. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, khóa luận đã đi sâu khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chất lượng sản phẩm quần tây nam tại đơn vị.

Mục tiêu chung của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng sản phẩm tại Nhà máy May Dung Quất, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm quần tây nam của nhà máy. Các mục tiêu cụ thể được xác định theo 5 nhiệm vụ:

  1. Phân tích hiện trạng chất lượng sản phẩm của nhà máy.
  2. Phân tích tình hình quản lý chất lượng của nhà máy.
  3. Tìm kiếm các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm của nhà máy.
  4. Đánh giá chất lượng và phương pháp quản lý chất lượng hiện tại của nhà máy.
  5. Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của nhà máy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng sản phẩm tại Nhà máy May Dung Quất (tập trung vào mặt hàng quần tây nam).
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu tập trung vào chất lượng sản phẩm may mặc của Nhà máy May Dung Quất, không đi sâu vào việc đánh giá tình hình thực hiện toàn diện các hệ thống quản lý chất lượng chung.
  • Phạm vi không gian: Nhà máy May Dung Quất – Chi nhánh Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng (địa chỉ tại Lô L1 Phân khu công nghiệp Sài Gòn - Dung Quất, xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian thực tập từ ngày 03/01/2017 đến ngày 29/04/2017; các dữ liệu thứ cấp phục vụ phân tích được thu thập trong giai đoạn 3 năm từ 2014 đến 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các quan điểm kinh điển về quản trị chất lượng. Tác giả tổng hợp định nghĩa chất lượng từ quan điểm định lượng thuộc tính sản phẩm của W. Shewhart ("tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng"), quan điểm hướng về người tiêu dùng của J.M. Juran ("sự phù hợp với sử dụng, công dụng"), W.E. Deming ("mức độ dự đoán trước về tính đồng đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp nhất và được thị trường chấp nhận"), K. Ishikawa ("sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất"), P.B. Crosby ("sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định") và định nghĩa chuẩn hóa theo ISO 9000:2000 ("mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có thể đáp ứng các yêu cầu"). Đề tài phân tích chất lượng qua ba phương diện (mô hình 3P: Perfectibility - hoàn thiện, Price - giá cả, Punctuality - kịp thời), vòng xoáy chất lượng Juran, các nấc thang quản trị chất lượng (Kiểm tra chất lượng, Kiểm soát chất lượng - QC, Kiểm soát chất lượng toàn diện - TQC, Quản lý chất lượng toàn diện - TQM) và hệ thống chi phí chất lượng theo TCVN 8402:1999 (gồm chi phí phù hợp: phòng ngừa, thẩm định; chi phí không phù hợp: hư hỏng bên trong, hư hỏng bên ngoài).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp nội bộ từ các phòng ban chức năng của Nhà máy May Dung Quất (Phòng Kế toán tài vụ, Phòng Tổ chức – Hành chính, Phòng Kế hoạch – Điều độ, Phòng Chất lượng) bao gồm các bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo cơ cấu lao động, thống kê sản lượng sản xuất, báo cáo tỷ lệ sai hỏng, số lượng hàng trả về và chi phí chất lượng. Dữ liệu bên ngoài được tổng hợp từ số liệu của Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Dệt may, internet và các tài liệu chuyên ngành. Phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để tổng hợp, lập bảng biểu và tính toán các chỉ số biến động.
  • Phương pháp thống kê mô tả: Hệ thống hóa, phân nhóm và trình bày dữ liệu nhằm phản ánh khái quát đặc trưng về lao động, tài sản, kết quả kinh doanh và các chỉ tiêu sai lỗi kỹ thuật.
  • Phương pháp so sánh: Sử dụng số tuyệt đối và số tương đối để so sánh các chỉ tiêu kinh tế, sản lượng, tỷ lệ sai hỏng qua từng năm trong giai đoạn 2014 – 2016, làm rõ xu hướng biến động và mức độ chuyển dịch của các chỉ số chất lượng.
  • Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích các mối quan hệ nhân quả ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thông qua việc áp dụng biểu đồ nhân quả (biểu đồ xương cá / biểu đồ Ishikawa) của K. Ishikawa để nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây ra lỗi may mặc từ 4 khía cạnh: con người, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và phương pháp quản trị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa khung lý luận về chất lượng sản phẩm, công tác quản lý chất lượng trong doanh nghiệp và bức tranh tổng quan của ngành dệt may. Tác giả phân chia hệ thống chỉ tiêu phản ánh chất lượng sản phẩm thành hai nhóm: nhóm chỉ tiêu không so sánh được (công dụng, độ tin cậy, công nghệ, lao động học, thẩm mỹ, độ bền, dễ vận chuyển, an toàn, sinh thái, tiêu chuẩn hóa, kinh tế) và nhóm chỉ tiêu có thể so sánh được (tỷ lệ sai hỏng tính theo thước đo hiện vật và thước đo giá trị, tỷ lệ đạt chất lượng). Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm được bóc tách thành nhóm nhân tố khách quan bên ngoài (thị trường, trình độ khoa học kỹ thuật, cơ chế chính sách quản lý nhà nước, điều kiện tự nhiên, văn minh và thói quen tiêu dùng) và nhóm nhân tố chủ quan bên trong (trình độ lao động, máy móc công nghệ, trình độ tổ chức và quản lý sản xuất, chất lượng nguyên vật liệu, quan điểm của lãnh đạo).

Nội dung chương cũng trình bày cơ cấu chi phí chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN 8402:1999 và công thức xác định chỉ số chi phí chất lượng nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế của công tác quản trị. Ở phần tổng quan ngành, khóa luận nêu bật tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân của ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 đạt 14,74%/năm, giữ vị trí thứ hai cả nước về kim ngạch và thuộc top 5 quốc gia xuất khẩu dệt may thế giới. Số liệu từ Tổng cục Hải quan về 10 thị trường lớn trong 9 tháng đầu năm 2016 ghi nhận xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 8,64 tỷ USD (tăng 3,7%), Nhật Bản đạt 2,15 tỷ USD (tăng 5,75%), Hàn Quốc đạt 1,71 tỷ USD (tăng 11%), Tây Ban Nha đạt 345.862 USD (tăng 30,90%), bên cạnh sự sụt giảm tại một số thị trường như Hungary (-67,4%) hay Brazil (-48,21%). Đối với địa bàn thành phố Đà Nẵng, tính đến tháng 11/2015 có gần 60 doanh nghiệp tham gia sản xuất hàng may mặc xuất khẩu nhưng giá trị mới chiếm gần 2% toàn ngành, cho thấy tiềm năng phát triển gắn liền với dịch chuyển nguồn lao động có tay nghề về khu vực miền Trung.

Chương 2: Thực trạng chất lượng sản phẩm quần tây nam tại Nhà máy May Dung Quất

Chương 2 giới thiệu quá trình hình thành của Nhà máy May Dung Quất: tiền thân là Xí nghiệp May Dung Quất trực thuộc Công ty Cổ phần May Phương Đông (thành lập ngày 05/05/2004 theo Quyết định số 213/MPĐ). Đến ngày 01/10/2006, đơn vị được chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may Đà Nẵng (nay là Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng) theo Hợp đồng số 01NB/PDG-DMĐN và đổi tên thành Nhà máy May Dung Quất theo Quyết định số 113/QĐ-TCHC, hoạt động theo Giấy phép kinh doanh số 0400410498-003, tổng diện tích mặt bằng 29 ha. Cơ cấu tổ chức gồm Ban Giám đốc, Phó Giám đốc và các đơn vị trực thuộc: Phòng Tổ chức – Hành chính, Phòng Kế toán tài vụ, Phòng Kế hoạch – Điều độ, Phòng Chuẩn bị sản xuất, Phòng Chất lượng (gồm bộ phận QA và QC), Tổ Cơ điện, Tổ Cắt, Phân xưởng May và Tổ Hoàn thành.

Khóa luận phân tích thực trạng nguồn lực và kết quả kinh doanh của nhà máy giai đoạn 2014 – 2016 thông qua các bảng tổng hợp số liệu:

Chỉ tiêu phân tích Đơn vị tính Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 So sánh 2015/2014 (+/- %) So sánh 2016/2015 (+/- %)
Tổng số lao động Người 755 789 843 +4,50% +6,84%
- Lao động trực tiếp Người 687 713 756 +3,78% +6,03%
- Lao động gián tiếp Người 68 76 87 +11,76% +14,47%
- Lao động nữ Người 643 697 745 +8,39% +6,89%
- Lao động phổ thông Người 689 700 733 +1,60% +4,71%
- Độ tuổi 18 – 30 Người 540 589 621 +9,07% +5,43%
Doanh thu Triệu đồng 45.247,81 52.596,27 63.798,47 +16,24% +21,30%
Lợi nhuận ròng Triệu đồng 794,43 556,92 1.511,31 -34,43% +171,37%
Tài sản ngắn hạn Triệu đồng 9.683,29 10.165,12 12.144,99 +4,97% +19,18%
Tài sản dài hạn Triệu đồng 14.255,06 12.542,53 10.614,45 -12,01% -15,37%
Sản lượng quần tây nam Ngàn chiếc 1.480 1.550 1.658 +4,73% +6,97%

Về quy trình công nghệ, sản phẩm quần tây nam tại nhà máy trải qua chu trình 6 giai đoạn khép kín: (1) Giác sơ đồ (tính định mức tiêu hao, may mẫu duyệt với khách hàng, giác sơ đồ vi tính); (2) Kiểm tra, phân loại, cắt (tạo bán thành phẩm và loại bỏ phế liệu); (3) Đánh số bán thành phẩm (đánh số theo lô, công đoạn để tránh nhầm lẫn khi may); (4) Phân xưởng may chuyền (rải chuyền theo công đoạn chi tiết); (5) Kiểm tra chất lượng sản phẩm (bộ phận kiểm hàng/QC phân loại đạt chuẩn hoặc chuyển trả xưởng may tái chế); (6) Ủi, đóng gói thành phẩm và nhập kho (đóng thùng theo Packing list).

Khóa luận phân tích hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt do đối tác Kizan quy định đối với mặt hàng quần tây nam: yêu cầu về vải (thoải mái, mềm mát, không ma sát kích ứng da, bền co giãn khi giặt thường xuyên) và thành phẩm (đường may sắc nét không lộ, giữ phom dáng trong các điều kiện vận động, quy cách nhãn mác đầy đủ ký hiệu bảo quản, thành phần sợi, kích cỡ, xuất xứ).

Tác giả đi sâu đánh giá thực trạng quản lý chất lượng qua các chỉ tiêu định lượng: thống kê tỷ lệ phế phẩm, số lượng hàng trả về, các khiếu nại của khách hàng Kizan và chi phí hư hỏng giai đoạn 2014 – 2016. Sử dụng biểu đồ nhân quả Ishikawa, tác giả phân tích cơ cấu sai lỗi phát sinh tại từng khu vực sản xuất: khu trải và cắt vải (lệch canh sợi, cắt sai kích thước sơ đồ), khu may chi tiết (lỗi may mí, diễu không đều, trượt đường may), khu may lắp ráp (lệch cạp, chênh đũng, nhăn sườn), và khu giặt ủi (cháy vải, bóng đường may, ủi mất ly). Nguyên nhân cốt lõi được chỉ ra là do tay nghề công nhân không đồng đều (lao động phổ thông chiếm trên 86%, tác phong mang nặng tính nông nghiệp), thiết bị máy móc chịu khấu hao cơ học qua nhiều năm sử dụng, sự thiếu ổn định của một số lô nguyên phụ liệu và quy trình kiểm soát của bộ phận QC tại chuyền chưa thực sự ngăn chặn triệt để sản phẩm lỗi ngay từ công đoạn phát sinh.

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm quần tây nam tại Nhà máy May Dung Quất

Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và định hướng phát triển mở rộng thị trường xuất khẩu của nhà máy, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp chia theo lộ trình:

  • Nhóm giải pháp ngắn hạn:

    • Tăng cường kiểm soát kỹ thuật tại các công đoạn có tỷ lệ sai hỏng cao (trải vải, cắt, may chi tiết ráp nối).
    • Rà soát và siết chặt quy chế kiểm tra chất lượng đầu vào của nguyên phụ liệu (vải, chỉ may, khóa kéo, cúc) trước khi đưa vào giác sơ đồ và cắt bán thành phẩm.
    • Thiết lập cơ chế phối hợp trực tiếp giữa nhân viên kiểm tra chất lượng (QC) và tổ trưởng chuyền may nhằm phát hiện và khắc phục lỗi tức thì tại chỗ, hạn chế sản phẩm hỏng chuyển sang công đoạn hoàn thiện.
  • Nhóm giải pháp dài hạn:

    • Đào tạo, huấn luyện đội ngũ công nhân và nâng cao ý thức trách nhiệm: Chuẩn hóa quy trình đào tạo công nhân mới, mở các lớp bồi dưỡng thao tác kỹ thuật may cho công nhân bậc thấp, rèn luyện tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật lao động.
    • Đầu tư máy móc thiết bị đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng: Lập kế hoạch thay thế dần các máy may cũ bị hao mòn, trang bị thêm các dòng máy chuyên dùng hiện đại (máy may điện tử, máy mổ túi tự động, máy ép phom định hình) nhằm giảm thiểu phụ thuộc vào sai sót thao tác thủ công.
    • Chủ động tìm kiếm nguồn nguyên phụ liệu mới chất lượng: Mở rộng quan hệ hợp tác với các nhà cung ứng vải và phụ liệu có uy tín, kiểm định nghiêm ngặt độ co giãn, độ bền màu của vải trước khi nhập kho số lượng lớn.
    • Xây dựng nền văn hóa chất lượng trong toàn nhà máy: Quán triệt triết lý "làm đúng ngay từ đầu" đến từng vị trí làm việc từ cấp quản lý đến người lao động trực tiếp; biến cam kết chất lượng thành thói quen thường nhật.
    • Tăng cường công tác quản trị và áp dụng chế độ thưởng phạt chất lượng hợp lý: Xây dựng bộ chỉ số KPI về chất lượng gắn liền với định mức tiền lương và tiền thưởng; khen thưởng thích đáng các tổ may có tỷ lệ phế phẩm thấp và xử lý kỷ luật đối với các trường hợp cố tình vi phạm quy trình kỹ thuật.
    • Đầu tư cho công tác nghiên cứu, thăm dò thị trường: Nắm bắt xu hướng thời trang quần tây nam quốc tế, yêu cầu kỹ thuật và các rào cản kỹ thuật của các thị trường mục tiêu nhằm chủ động chuẩn bị công nghệ sản xuất.

Khóa luận kết thúc bằng các kiến nghị cụ thể gửi tới Ban Giám đốc Nhà máy May Dung Quất trong việc phân bổ ngân sách đầu tư thiết bị, cải thiện điều kiện môi trường làm việc; đồng thời kiến nghị Hiệp hội Dệt may Việt Nam hỗ trợ kết nối thông tin thị trường, tổ chức các khóa bồi dưỡng chuyên gia quản trị chất lượng cho các doanh nghiệp thành viên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận phản ánh bức tranh toàn diện về tình hình sản xuất và công tác quản lý chất lượng sản phẩm tại Nhà máy May Dung Quất giai đoạn 2014 – 2016 thông qua các kết quả định lượng cụ thể:

  • Làm rõ sự tăng trưởng sản lượng sản xuất quần tây nam từ 1.480 ngàn sản phẩm (2014) lên 1.550 ngàn sản phẩm (2015) và đạt 1.658 ngàn sản phẩm (2016).
  • Ghi nhận diễn biến tài chính và kinh doanh của nhà máy: Doanh thu liên tục tăng từ 45.247,81 triệu đồng (2014) lên 52.596,27 triệu đồng (2015) và đạt 63.798,47 triệu đồng (2016). Lợi nhuận ròng sau khi sụt giảm 34,43% trong năm 2015 (đạt 556,92 triệu đồng) đã có sự phục hồi mạnh mẽ trong năm 2016, đạt 1.511,31 triệu đồng (tăng 171,37% so với năm 2015).
  • Định hình thực trạng cơ cấu lao động tại doanh nghiệp với quy mô nhân sự tăng từ 755 người (2014) lên 843 người (2016), trong đó lao động trực tiếp chiếm xấp xỉ 90%, lao động nữ chiếm trên 85% và lực lượng lao động phổ thông chiếm tỷ trọng chi phối từ 86,95% đến 91,26%.
  • Nhận diện chính xác quy trình sản xuất 6 công đoạn của mặt hàng quần tây nam xuất khẩu và các điểm nghẽn kỹ thuật làm phát sinh lỗi thông qua công cụ biểu đồ nhân quả Ishikawa (tại khu vực cắt, may chi tiết, lắp ráp và ủi hoàn thiện).
  • Đóng góp của đề tài thể hiện ở tính ứng dụng của hệ thống giải pháp: Tác giả không đề xuất các biện pháp chung chung mà phân định rõ giải pháp ngắn hạn (tập trung kỹ thuật thao tác, kiểm soát lỗi tại chuyền) và giải pháp dài hạn (quy trình đào tạo công nhân, đầu tư máy may chuyên dụng, xây dựng văn hóa chất lượng và cơ chế thưởng phạt gắn với tỷ lệ phế phẩm), bám sát năng lực tài chính và điều kiện thực tế của một chi nhánh may gia công xuất khẩu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản khóa luận ghi nhận một số hạn chế do điều kiện khách quan và chủ quan của tác giả:

  • Hạn chế về thời gian nghiên cứu thực tế tại doanh nghiệp (kéo dài trong 4 tháng, từ ngày 03/01/2017 đến ngày 29/04/2017), kinh nghiệm thực tiễn và nguồn kinh phí nghiên cứu còn eo hẹp.
  • Về phạm vi nội dung, đề tài giới hạn ở việc phân tích chất lượng sản phẩm quần tây nam cụ thể, chưa thể đi sâu đánh giá toàn diện việc áp dụng và vận hành các hệ thống tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế mang tính hệ thống (như ISO 9001 hay hệ thống Lean Manufacturing) tại đơn vị.
  • Dữ liệu đánh giá từ phía khách hàng chủ yếu dựa trên các báo cáo phản hồi, khiếu nại định kỳ của đối tác Kizan, chưa thực hiện được các cuộc điều tra khảo sát xã hội học mở rộng đối với người tiêu dùng trực tiếp trên thị trường bán lẻ.

Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo: Cần nghiên cứu tích hợp mô hình sản xuất tinh gọn (Lean Manufacturing) hoặc hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM) vào toàn bộ dây chuyền sản xuất may mặc; mở rộng phạm vi khảo sát đối với các dòng sản phẩm dệt may khác của nhà máy và phân tích chuyên sâu hiệu quả chi phí chất lượng (Cost of Quality - COQ) theo từng lô hàng xuất khẩu cụ thể.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Quản trị chất lượng, Quản trị tác nghiệp và Công nghệ may mặc: Tài liệu là một nghiên cứu trường hợp điển hình (case study) về phương pháp tiếp cận, đánh giá chất lượng sản phẩm công nghiệp may mặc từ lý luận đến thực tiễn sản xuất.
  • Cán bộ kỹ thuật, tổ trưởng sản xuất, nhân viên QA/QC tại các xí nghiệp, nhà máy may xuất khẩu: Tham khảo quy trình sản xuất 6 công đoạn chuẩn của mặt hàng quần tây nam; bảng tiêu chuẩn kỹ thuật đánh giá lỗi theo tiêu chuẩn đối tác quốc tế Kizan; phương pháp ứng dụng biểu đồ nhân quả Ishikawa để truy tìm và xử lý nguyên nhân lỗi vải, lỗi may, lỗi ủi.
  • Các nhà quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ ngành may mặc: Tham khảo phương thức xây dựng quy trình đào tạo công nhân may, cơ cấu phân bổ lao động trực tiếp - gián tiếp và cách thức thiết lập cơ chế thưởng phạt chất lượng nhằm hạ thấp tỷ lệ phế phẩm và chi phí hư hỏng.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhà máy May Dung Quất có nguồn gốc hình thành và địa vị pháp lý như thế nào?
Tiền thân của nhà máy là Xí nghiệp May Dung Quất trực thuộc Công ty Cổ phần May Phương Đông, thành lập theo Quyết định số 213/MPĐ ngày 05/05/2004. Ngày 01/10/2006, đơn vị được chuyển nhượng cho Công ty Cổ phần Sản xuất Xuất nhập khẩu Dệt may Đà Nẵng (nay là Công ty Cổ phần Vinatex Đà Nẵng) theo Hợp đồng số 01NB/PDG-DMĐN và đổi tên thành Nhà máy May Dung Quất theo Quyết định số 113/QĐ-TCHC ngày 01/10/2006. Nhà máy hoạt động theo Giấy phép kinh doanh số 0400410498-003, đặt trụ sở tại Lô L1 Phân khu công nghiệp Sài Gòn - Dung Quất, xã Bình Thạnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

2. Khách hàng đối tác trọng điểm tiêu thụ dòng sản phẩm quần tây nam của nhà máy trong giai đoạn nghiên cứu là đơn vị nào?
Nhà máy May Dung Quất là chi nhánh trực thuộc Vinatex Đà Nẵng chuyên trách trực tiếp thực hiện các đơn hàng may mặc quần tây nam xuất khẩu cho đối tác khách hàng Kizan, tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng vải và quy cách thành phẩm do khách hàng này ban hành.

3. Tình hình sản lượng sản xuất quần tây nam của nhà máy biến động như thế nào qua các năm 2014 – 2016?
Sản lượng sản xuất quần tây nam của nhà máy tăng trưởng đều qua các năm: năm 2014 đạt 1.480 ngàn sản phẩm; năm 2015 tăng lên 1.550 ngàn sản phẩm (đạt tốc độ tăng 104,73% so với năm 2014); năm 2016 tiếp tục tăng lên 1.658 ngàn sản phẩm (đạt tốc độ tăng 106,97% so với năm 2015) nhằm đáp ứng nhu cầu đơn hàng xuất khẩu ngày càng lớn.

4. Đặc điểm nổi bật nhất về cơ cấu nguồn nhân lực tại Nhà máy May Dung Quất là gì?
Số lượng lao động của nhà máy tăng dần qua các năm (từ 755 người năm 2014 lên 843 người năm 2016). Cơ cấu nhân sự mang 4 đặc trưng rõ nét: lao động trực tiếp chiếm tỷ trọng lớn xấp xỉ 90% (756 người năm 2016); lao động nữ chiếm ưu thế tuyệt đối trên 85% (745 người năm 2016); lực lượng lao động phổ thông chiếm tỷ lệ áp đảo từ 86,95% đến 91,26%; và độ tuổi lao động rất trẻ, nhóm tuổi từ 18 đến 30 chiếm trên 70% tổng số công nhân viên của toàn nhà máy.

5. Sản phẩm quần tây nam tại nhà máy được chế tạo qua các công đoạn kỹ thuật nào?
Quy trình sản xuất gồm 6 giai đoạn kế tiếp nhau: (1) Giác sơ đồ trên máy tính và in sơ đồ mẫu; (2) Kiểm tra, phân loại nguyên vật liệu và tiến hành cắt vải tại phân xưởng cắt; (3) Đánh số bán thành phẩm theo lô và bộ phận; (4) Chuyển bán thành phẩm vào phân xưởng may để rải chuyền may chi tiết và lắp ráp; (5) Kiểm tra chất lượng sản phẩm bởi bộ phận kiểm hàng/QC (loại bỏ phế phẩm hoặc trả về xưởng may tái chế nếu không đạt chuẩn); (6) Chuyển sản phẩm đạt chuẩn sang bộ phận ủi định hình, đóng gói thùng theo Packing list và nhập kho chờ xuất khẩu.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Nhi đã phân tích có hệ thống thực trạng chất lượng và công tác quản lý chất lượng sản phẩm quần tây nam tại Nhà máy May Dung Quất trong giai đoạn 2014 – 2016. Dựa trên số liệu thứ cấp thực tế về sản lượng, tài chính, lao động và các chỉ số sai hỏng, tác giả đã nhận diện rõ những nguyên nhân cốt lõi gây ra lỗi may mặc bắt nguồn từ tay nghề công nhân, thiết bị máy móc và quy trình kiểm soát tại chuyền. Hệ thống giải pháp ngắn hạn và dài hạn được đề xuất có căn cứ thực tế, góp phần hỗ trợ doanh nghiệp giảm thiểu phế phẩm, hạ thấp chi phí chất lượng và nâng cao uy tín cạnh tranh của sản phẩm may mặc trên thị trường xuất khẩu.