Đặt vấn đề. Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng sản phẩm quần tây nam tại Nhà máy May Dung Quất.
Chƣơng 3: Giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng sản phẩm quần tây nam tại Nhà máy May Dung Quất. Phần III: Kết luận và kiến nghị. 5 SVTH: Nguyễn Thị Nhi Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Thị Diễm Thư PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Cơ sở lý luận về chất lƣợng sản phẩm 1. Khái niệm về chất lƣợng sản phẩm Chất lƣợng sản phẩm theo định nghĩa của W. Là một nhà quản lý ngƣời Mỹ, là ngƣời khởi xƣớng và đạo diễn cho quan điểm này đối với vấn đề về chất lƣợng và quản lý chất lƣợng. Shemart cho rằng: “chất lƣợng sản phẩm trong sản xuất kinh doanh công nghiệp là một tập hợp những đặc tính của sản phẩm phản ánh giá trị sử dụng của nó”.
Shemart đã coi chất lƣợng sản phẩm nhƣ là một vấn đề cụ thể và có thể định lƣợng đƣợc. Theo quan điểm này thì chất lƣợng sản phẩm sẽ là một yếu tố nào đó tồn tại trong các đặc tính của sản phẩm cho nên chất lƣợng sản phẩm cao cũng đồng nghĩa với việc phải xác lập cho các sản phẩm những đặc tính tốt hơn, phản ánh một giá trị cao hơn cho sản phẩm và nhƣ vậy chi phí sản xuất sản phẩm cũng cao hơn làm cho giá bán của sản phẩm ở một chừng mực nào đó khó đƣợc ngƣời tiêu dùng và xã hội chấp nhận. Do vậy, quan điểm về chất lƣợng này của Shemart ở một mặt nào đó có một ý nghĩa nhất định nhƣng nhìn chung đây là một quan điểm đã tách rời chất lƣợng với ngƣời tiêu dùng và các nhu cầu của họ. Nó không thể thỏa mãn đƣợc các điều kiện về kinh doanh và cạnh tranh trong bối cảnh hiện nay.
Khi nêu câu hỏi “Bạn quan niệm thế nào là chất lƣợng sản phẩm”, ngƣời ta thƣờng nhận đƣợc rất nhiều câu trả lời khác nhau tùy theo đối tƣợng đƣợc hỏi là ai. Theo quan điểm của nhà sản xuất thì: “Chất lƣợng là một hệ thống đặc trƣng nội tại của sản phẩm đƣợc xác định bằng những thông số có thể đo đƣợc hoặc so sánh đƣợc, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị của nó”. Chất lƣợng là cái gì tốt nhất, sang trọng nhất. Đó là cái gì đạt trình độ thế giới hoặc đạt trình độ chất lƣợng cao nhất trong điều kiện xác định.
Theo quan niệm của ngƣời tiêu dùng: Theo Juran: “Chất lƣợng là sự phù hợp với sử dụng, công dụng”. (Quản lý chất lƣợng đồng bộ. 6 SVTH: Nguyễn Thị Nhi Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Thị Diễm Thư Theo Deming: “Chất lƣợng là mức độ dự đoán trƣớc về tính đồng đều và có thể tin cậy đƣợc, tại mức chi phí thấp nhất và đƣợc thị trƣờng chấp nhận”.
Theo Ishikawa: “Chất lƣợng là sự thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng với chi phí thấp nhất”. (Quản lý chất lƣợng theo phƣơng pháp Nhật. NXB KH_KT 1990). Theo Crosby: “Chất lƣợng là sự phù hợp với các yêu cầu hay đặc tính nhất định.
Nhƣ vậy ta thấy cách nhìn về chất lƣợng giữa nhà sản xuất và ngƣời tiêu dùng khác nhau nhƣng không mâu thuẫn nhau. Khái niệm về chất lƣợng theo ISO 9000:2000: “Chất lƣợng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có thể đáp ứng các yêu cầu”. Yêu cầu là yêu cầu đối với sản phẩm, hệ thống hay quá trình, yêu cầu của các bên quan tâm khác nhau. Chất lƣợng sản phẩm có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: “Chất lƣợng sản phẩm là tập hợp những chỉ tiêu, những đặc trƣng của sản phẩm thể hiện mức thỏa mãn những nhu cầu trong điều kiện tiêu dùng xác định”.
Chất lƣợng sản phẩm đƣợc thể hiện trên 3 phƣơng diện: - Perfectibility: sự hoàn thiện sản phẩm. - Price: giá thể hiện chi phí để sản xuất (mua) sản phẩm và chi phí để khai thác, sử dụng nó. - Punctuality: sự kịp thời cả về chất lƣợng và thời gian. Các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng sản phẩm Chỉ tiêu chất lƣợng sản phẩm là đặc tính, định lƣợng của tính chất cấu thành hiện vật sản phẩm.
Có rất nhiều các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng sản phẩm. Chúng đƣợc phân thành hai loại: Nhóm các chỉ tiêu không so sánh đƣợc và nhóm các chỉ tiêu so sánh đƣợc. Nhóm các chỉ tiêu không so sánh được Chỉ tiêu công dụng: Đây là chỉ tiêu đặc trƣng cho các thuộc tính, xác định những chức năng chủ yếu của sản phẩm, quy định giá trị sử dụng của sản phẩm. 7 SVTH: Nguyễn Thị Nhi Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hoàng Thị Diễm Thư Chỉ tiêu độ tin cậy: Phản ánh sự ổn định của các đặc tính sử dụng của sản phẩm, khả năng sản phẩm và dịch vụ có thể tiếp tục đáp ứng các yêu cầu của ngƣời tiêu dùng. Chỉ tiêu công nghệ: Là những chỉ tiêu đặc trƣng cho phƣơng pháp, quy trình sản xuất nhằm tiết kiệm các yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất (tối thiểu hóa các chi phí sản xuất) sản phẩm. Chỉ tiêu lao động học: Phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với sản phẩm, đặc biệt là sự thuận lợi mà sản phẩm đem lại cho ngƣời tiêu dùng trong quá trình sử dụng. Chỉ tiêu thẩm mỹ: Đặc trƣng cho mức độ truyền cảm, hấp dẫn của sản phẩm, sự hài hòa về hình thức, nguyên vẹn về kết cấu.
Chỉ tiêu độ bền: Đây là chỉ tiêu phản ánh khoảng thời gian từ khi sản phẩm đƣợc hoàn thiện tới khi sản phẩm không còn vận hành, sử dụng nữa. Chỉ tiêu dễ vận chuyển: Phản ánh sự thuận tiện của các sản phẩm trong quá trình di chuyển, vận chuyển trên các phƣơng tiện giao thông. Chỉ tiêu an toàn: Chỉ tiêu đặc trƣng cho mức độ an toàn khi sản xuất hay tiêu dùng sản phẩm. Chỉ tiêu sinh thái: Phản ánh mức độ gây độc hại, ảnh hƣởng đến môi trƣờng xung quanh trong quá trình sản xuất và vận hành sản phẩm.
Chỉ tiêu tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa: Đặc trƣng cho khả năng lắp đặt và thay thế của sản phẩm khi sử dụng. Chỉ tiêu kinh tế: Phản ánh các chi phí cần thiết từ khi thiết kế, chế tạo đến khi cung ứng sản phẩm và các chi phí liên quan sau khi tiêu dùng sản phẩm. Nhóm chỉ tiêu có thể so sánh được Tỷ lệ sai hỏng: Đánh giá tình hình thực hiện chất lƣợng sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất các loại sản phẩm không phân thứ hạng chất lƣợng sản phẩm Sử dụng thƣớc đo hiện vật: Số lƣợng sản phẩm sai hỏng Tỷ lệ sai hỏng = x 100% Tổng sản phẩm sản xuất 8 SVTH: Nguyễn Thị Nhi Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS. Hoàng Thị Diễm Thư Sử dụng thƣớc đo giá trị: Chi phí cho các sản phẩm hỏng Tỷ lệ sai hỏng = X 100% Tổng chi phí cho toàn bộ sản phẩm Tỷ lệ đạt chất lượng: Số sản phẩm đạt chất lƣợng Tỷ lệ đạt đƣợc = x 100% Tổng sản phẩm sản xuất Để sản xuất kinh doanh một sản phẩm nào đó, doanh nghiệp phải xây dựng đƣợc hệ thống các tiêu chuẩn về chất lƣợng sản phẩm, phải đăng ký và đƣợc các cơ quan quản lý, chất lƣợng sản phẩm Nhà nƣớc ký duyệt.
Tùy từng loại sản phẩm, điều kiện của doanh nghiệp mà xây dựng tiêu chuẩn chất lƣợng sản phẩm. Trong quá trình thực hiện doanh nghiệp phải đảm bảo đúng các thông số mức chất lƣợng đã ký của sản phẩm, đó là thông số mức độ chất lƣợng đã ký của sản phẩm, đó là cơ sở để kiểm tra đánh giá chất lƣợng sản xuất. Trên thực tế, việc đánh giá chất lƣợng sản phẩm đƣợc căn cứ vào hệ thống các chỉ tiêu do Nhà nƣớc, các bộ ngành ban hành hay do chính doanh nghiệp xây dựng. Điều này đảm bảo cho việc kiểm tra đánh giá đƣợc chính xác, tập trung, bảo vệ quyền lợi cho ngƣời tiêu dùng.
Các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng sản phẩm Nhóm nhân tố khách quan: Là nhóm các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp Thị trường Nói đến thị trƣờng là đề cập tới các yếu tố: Cung, cầu, giá cả, quy mô thị trƣờng, cạnh tranh…Chất lƣợng sản phẩm luôn gắn liền với sự vận động và biến đổi của thị trƣờng, đặc biệt là nhu cầu thị trƣờng, tác động trực tiếp đến chất lƣợng sản phẩm. Trên cơ sở nghiên cứu thị trƣờng doanh nghiệp xác định đƣợc khách hàng của mình là đối tƣợng nào? Quy mô ra sao? Và tiêu thụ ở mức nhƣ thế nào? Từ đó doanh nghiệp có thể xây dựng chiến lƣợc sản phẩm, kế hoạch sản xuất, kế hoạch sản xuất để có thể đƣa ra những sản phẩm với mức chất lƣợng phù hợp, giá cả hợp lý với nhu cầu và khả năng tiêu thụ ở những thời điểm nhất định. Bởi vì sản phẩm có chất lƣợng cao không phải lúc nào cũng tiêu thụ nhanh và ngƣợc lại chất lƣợng có thể không cao nhƣng ngƣời tiêu dùng lại mua chúng nhiều. Điều này có thể 9 SVTH: Nguyễn Thị Nhi Khóa luận tốt nghiệp GVHD: ThS.
Hoàng Thị Diễm Thư do giá cả, thị hiếu của ngƣời tiêu dùng ở các thị trƣờng khác nhau là khác nhau, hoặc sự tiêu dùng mang tính thời điểm. Điều này đƣợc phản ánh rõ nét nhất với các sản phẩm mốt hoặc những sản phẩm sản xuất theo mùa vụ. Thông thƣờng, khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì yêu cầu của ngƣời tiêu dùng chƣa cao, ngƣời ta chƣa quan tâm nhiều tới mặt xã hội của sản phẩm. Nhƣng khi đời sống xã hội tăng lên đòi hỏi về chất lƣợng cũng tăng theo.
Đôi khi họ chấp nhận mua sản phẩm với giá rất cao để có thể thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Chính vì vậy, các doanh nghiệp không chỉ phải sản xuất ra những sản phẩm có chất lƣợng cao, đáp ứng đƣợc nhu cầu thị trƣờng mà còn phải quan tâm tới khía cạnh thẩm mỹ, an toàn và kinh tế của ngƣời tiêu dùng khi tiêu thụ sản phẩm. Trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật Ngày nay, không có sự tiến bộ kinh tế xã hội nào không gắn liền với tiến bộ khoa học công nghệ trên thế giới. Trong vài thập kỷ trở lại đây, trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy mạnh mẽ sự tăng trƣởng và phát triển của kinh tế.