phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo cùng các phụ lục đi kèm, nội dung chính của luận văn dự kiến đƣợc kết cấu trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết về chất lƣợng nhân sự và chất lƣợng nhân sự trong ngành hải quan Chƣơng 2: Thực trạng chất lƣợng nhân sự tại Cục hải quan tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng nhân sự tại Cục hải quan tỉnh Quảng Ninh hƣớng tới hiện đại hóa hải quan đến năm 2020 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG NHÂN SỰ VÀ CHẤT LƢỢNG NHÂN SỰ TRONG NGÀNH HẢI QUAN 1. Nhân sự và chất lƣợng nhân sự trong tổ chức 1. Quan niệm và vai trò của nhân sự trong tổ chức 1. Quan niệm về nhân sự Hiện nay, đã hình thành nên nhiều khái niệm nguồn nhân sự với nhiều các cách hiểu hay quan điểm khác nhau từ các trƣờng phái kinh tế, các nhà khoa học, các nhà quản lý và các ổ chức kinh tế quốc tế.
Có thể khái quát một số quan điểm về nguồn nhân sự nhƣ sau: Theo thuyết lao động xã hội, nhân sự đƣợc hiểu theo hai giác độ: ở tầm vĩ mô, nguồn nhân sự là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngƣời cho sự phát triển. Theo đó, nguồn nhân sự bao gồm toàn bộ dân cƣ có cơ thể phát triển bình thƣờng. Nguồn tạo ra nguồn lực con ngƣời là sự biến động tự nhiên của dân số và tác động của sự biến động đó đến nguồn nhân sự. Ở tầm vi mô, nguồn nhân sự là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển KTXH, các cá nhân có thể tham gia vào quá trình lao động là tổng thể các yếu tố về thể lực và trí lực của họ đƣợc hình thành từ quá trình giáo dục, chăm sóc sức khỏe và đƣợc sử dụng trong quá trình lao động.
Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng, nguồn nhân sự là toàn bộ vốn con ngƣời, bao gồm thể lực, trí lực và kỹ năng con ngƣời…ở trong từng cá nhân. Đầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ quan trọng nhất trong các loại đầu tƣ và đƣợc coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững. Tổ chức Liên hợp quốc (UN) cũng cho rằng nguồn nhân sự là tất cả các kiến thức, kỹ năng, năng lực của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của đất nƣớc. Quan niệm này xem xét nguồn nhân sự chủ yếu ở phƣơng diện chất lƣợng con ngƣời và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển KTXH của một quốc gia.
Stivastava M/P (Ấn Độ) trong cuốn “Human resource planning: Aproach needs assessments and priorities in manpower planning”; NXB Manak New Delhi 1997, đã đƣa ra định nghĩa nguồn nhân sự 4 dƣới góc độ kinh tế nhƣ sau: “Nguồn nhân sự đƣợc hiểu là toàn bộ vốn nhân sự bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà từng cá nhân sở hữu. Vốn nhân sự đƣợc hiểu là con ngƣời dƣới dạng một nguồn vốn, thậm chí là nguồn vốn quan trọng đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tƣơng lai hoặc nhƣ là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp các kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích lũy đƣợc nhờ vào quá trình lao động sản xuất. Do vậy, các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và dinh dƣỡng…để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân sự đƣợc xem nhƣ chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tƣ vào con ngƣời”.
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân sự là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng. Nguồn nhân sự theo nghĩa hẹp và để có thể lƣợng hoá đƣợc trong công tác kế hoạch hoá ở nƣớc ta đƣợc quy định là một bộ phận của dân số, bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động theo quy định của Bộ luật lao động Việt Nam (nam đủ 15 đến hết 60 tuổi, nữ đủ 15 đến hết 55 tuổi). Trên cơ sở đó, một số nhà khoa học Việt Nam đã xác định nguồn nhân sự hay nguồn lực con ngƣời bao gồm lực lƣợng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lƣợng lao động đƣợc xác định là ngƣời lao động đang làm việc và ngƣời trong độ tuổi lao động có nhu cầu nhƣng không có việc làm (ngƣời thất nghiệp).
Lao động dự trữ bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, ngƣời trong độ tuổi lao động nhƣng không có nhu cầu lao động. Theo phạm vi hẹp hơn, nhân sự trong một tổ chức đƣợc hiểu là: Nhân sự bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó, có trình độ, năng lực, phẩm chất, sức khỏe khác nhau, họ có tiềm năng và khả năng lao động để tham gia vào quá trình hoạt động và phát triển của tổ chức đó. Vai trò của nhân sự Nhân sự là yếu tố đầu vào và nguồn lực sản xuất chính của quá trình sản xuất. 5 Vai trò của nhân sự đối với tăng trƣởng và phát triển kinh tế đƣợc thể hiện ở hai góc độ, vừa là chủ thể vừa là khách thể.
Với vai trò là chủ thể của quá trình SXKD và phát triển xã hội, con ngƣời tìm cách để khai thác và sử dụng các nguồn lực hiện có, đồng thời tạo ra các nguồn lực mới. Với vai trò là khách thể, con ngƣời trở thành đối tƣợng đƣợc khai thác về thể lực và trí lực để góp phần thực hiện các mục tiêu KTXH. Nhƣ trong hàm sản xuất đƣợc Mankiw đƣa ra: Y = A F(L,K,H,V) Trong đó: Y là hàm sản xuất; A là yếu tố đổi mới công nghệ; Yếu tố L đƣợc hiểu nhƣ là nguồn lao động về thể lực của ngƣời lao động (hình thành qua hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe) và yếu tố H đƣợc hiểu nhƣ là kiến thức và kỹ năng (hình thành qua giáo dục đào tạo, kinh nghiệm lao động. Kinh nghiệm thực tiễn chứng minh rằng, trong thời gian vừa qua, sự phát triển vƣợt bậc của các nền kinh tế ở khu vực Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan…) là do sự đầu tƣ rất lớn vào nâng cao chất lƣợng nhân sự thông qua việc đầu tƣ cho hệ thống giáo dục - đào tạo.
Nhân sự là một yếu tố quyết định của quá trình sản xuất Vừa là một yếu tố đầu vào, nhân sự còn là yếu tố chủ động trong quá trình sản xuất, mang tính quyết định đến việc tổ chức và sử dụng hiệu quả các nguồn lực khác. Để sử dụng các nguồn lực xã hội một cách hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm, phải dựa vào nền tảng phát triển của nhân sự về thể chất, tri thức, trình độ văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp, kinh nghiệm quản lý… Nhân sự vừa là lực lƣợng sản xuất chính và vừa là ngƣời đƣợc hƣởng lợi ích của quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế Nhân sự vừa là yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất và vừa là yếu tố gắn với đầu ra của quá trình sản xuất. Hiểu đơn giản ở khía cạnh gắn với đầu ra quá trình sản xuất đó là việc tiêu thụ sản phẩm của quá trình SXKD là yếu tố con ngƣời. Xét về yếu tố đầu vào, nếu nguồn nhân sự có chất lƣợng tốt sẽ góp 6 phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế do việc sử dụng nhân sự có hiệu quả, giảm chi phí lao động trong tổng chi phí sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ, đặc biệt trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, đã vƣợt ra khỏi ranh giới phạm vi một quốc gia với xu hƣớng hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng.
Và nguồn nhân sự lại tham gia vào việc tiêu dùng sản phẩm do chính con ngƣời làm ra. Xét trên khía cạnh này, nguồn nhân sự là yếu tố tạo cầu của nền kinh tế, có ý nghĩa quan trọng, thúc đẩy quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Đây là cơ sở để thúc đẩy tái sản xuất sức lao động về cả số lƣợng, cơ cấu và quan trọng hơn là nâng cao chất lƣợng nguồn nhân sự, tiếp đến là thúc đẩy quá trình phát triển KTXH ở các bƣớc tiến vƣợt bậc, hiệu quả và bền vững hơn. Nhân sự là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến tăng trƣởng kinh tế Nhân sự càng có vị trí ngày càng quan trọng khi xã hội càng phát triển, hàm lƣợng chất xám trong từng sản phẩm ngày càng tăng lên, nhất là sự phát triển của nền kinh tế tri thức sẽ làm vai trò của nhân sự quan trọng hơn bao giờ hết.
Các học thuyết về sự tăng trƣởng đã chỉ ra rằng động lực quan trọng nhất của sự tăng trƣởng là nguồn nhân sự đang hoạt động trong nền kinh tế. Tuy nhiên đó phải là các con ngƣời có tri thức có sức khoẻ và đƣợc đào tạo, con ngƣời phải có kỹ năng tay nghề, kiến thức và kinh nghiệm, năng lực sáng tạo… Nhƣ vậy, nhân sự mới thực sự trở thành nguồn lực chủ đạo trong quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của nhân sự với quá trình tăng trƣởng và phát triển là có giới hạn. Bởi vì, nguồn nhân sự tham gia vào quá trình KTXH với vai trò là “đầu vào”, đƣợc lƣợng hoá bằng “chi phí nhân công”, một bộ phận của chi phí sản xuất trong điều kiện thị trƣờng cạnh tranh đòi hỏi ngày càng phải giảm dần để giảm thiểu chi phí sản xuất, cơ sở cơ bản để giảm giá thành sản phẩm là một yêu cầu khách quan.
Ngƣợc lại, với tƣ cách nhân tố tiêu dùng, mỗi lao động đều đòi hỏi có việc làm và thu nhập cao để thoả mãn nhu cầu tái sản xuất sức lao động của cá nhân và gia đình ngày càng cao. Tính không thống nhất đó đặt ra các vấn đề mà xã hội phải xử lý trong việc bảo đảm tính cân đối giữa số lƣợng và chất lƣợng nhân sự đối với quá trình tăng trƣởng và phát triển kinh tế: giữa việc làm, thu nhập với bảo đảm giá 7 cả sản phẩm hàng hoá, dịch vụ mang tính cạnh tranh.