Chương 1: Mô ̣t số vấ n đề cơ bản về ho ạt động kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam - Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng - Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Cao Bằng. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN CỦ A HẢI QUAN VIỆT NAM 1. Kiểm tra sau thông quan và sự cần thiết phải tổ chức hoạt động kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan 1. Khái niệm kiểm tra sau thông quan Sự phát triển của thương mại quốc tế với lưu lượng ngày càng gia tăng của hàng hóa xuất nhập khẩu cho thấy, bất kể một quốc gia nào dù có cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hay lực lượng hải quan đông đảo và tinh nhuệ đến mấy cũng không thể áp dụng hình thức “gác cổng” truyền thống bằng chế độ kiểm tra 100% hàng hóa ngay tại cửa khẩu.
Quy trình hiện đại hóa hải quan quốc tế của Mike Lane trong “Hiện đại hóa hải quan và con đường thương mại quốc tế” đặt nền móng cho hoạt động hải quan đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở thực hiện những nhiệm vụ cơ bản của hải quan trong nền kinh tế hiện đại và hội nhập là: thu thuế nhập khẩu và thu khác, chống buôn lậu và tội phạm, thúc đẩy đầu tư và phát triển kinh tế, tăng cường hệ thống xử lý hải quan đồng bộ và minh bạch trên toàn thế giới. Trong qui trình đó, hải quan hiện đại là một cơ quan hải quan tinh thông nghiệp vụ, có khả năng kiểm soát chặt chẽ và tuân thủ các nguyên tắc quy định của pháp luật nhưng lại chỉ can thiệp rất ít vào sự vận động hợp pháp của hàng hóa, phương tiện vận tải và con người khi qua lại biên giới quốc gia [16]. Với yêu cầu thông quan nhanh để tạo thuận lợi cho thương mại, đồng thời phải quản lý chặt chẽ, chống thất thu thuế và các hành vi vi phạm, cơ quan Hải quan các quốc gia sẽ thực hiện cải cách thủ tục, tăng cường hiệu lực công tác bằng cách áp dụng biện pháp nghiệp vụ kéo dài thời hiệu kiểm tra, mở rộng phạm vi và đối tượng kiểm tra kiểm soát, chuyển hướng từ vai trò quản lý đối với hàng hóa tại thời điểm xuất nhập khẩu sang vai trò quản lý sau khi hàng hóa đã được thông quan, còn gọi là chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”. Biện pháp nghiệp vụ đó là KTSTQ - hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan sau khi hàng hóa đã được thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu 6 nhằm kiểm tra tính chính xác và trung thực các nội dung khai báo hải quan trong quá trình thông quan [30].
KTSTQ kiểm tra việc chấp hành Luật Hải quan, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cũng như các quy định khác về xuất nhập khẩu, từ đó mà phát hiện, ngăn chặn tình trạng gian lận trốn thuế, vi phạm Luật Hải quan, vi phạm chính sách mặt hàng, nhằm mục đích chính là phát hiện tình trạng gian lận để trốn thuế, gian lận thương mại vì vậy phải kiểm tra soát xét sổ sách chứng từ kế toán, ngân hàng tức là phải vận dụng nhiều kiến thức kiểm toán tài chính. Như vậy xét về bản chất thì KTSTQ thuộc loại hình kiểm toán tuân thủ - tài chính. Như vậy, Kiểm tra sau thông quan là quá trình nhân viên Hải quan kiểm tra tính trung thực hợp lý và độ tin cậy của các thông tin chủ hàng đã khai báo với hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ thương mại, hồ sơ hải quan, chứng từ kế toán, ngân hàng của các lô hàng đã thông quan. Những chứng từ này do các chủ thể (cá nhân/công ty) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tế lưu giữ.
Các hình thức KTSTQ chỉ kiểm tra các đơn vị có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến kinh doanh XNK đang hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Không phân biệt thành phần kinh tế, nguồn vốn sở hữu cũng không chờ đợi sự thoả thuận hoặc văn bản yêu cầu của doanh nghiệp. - Các chủ thể liên quan trực tiếp đến kinh doanh XNK chính là các chủ hàng XNK (doanh nghiệp và /hoặc cá nhân). - Các chủ thể liên quan gián tiếp đến hoạt động xuất nhập khẩu có thể là (nhưng không chỉ giới hạn trong các đối tượng này) - Theo luật pháp của nhiều nước thì các đối tượng có liên quan trực tiếp đến thương mại quốc tế (người nhập khẩu/người ủy thác) là đối tượng trực tiếp của kiểm tra sau thông qua, các đối tượng khác có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡ và cung cấp các thông tin cần thiết khi cơ quan Hải quan yêu cầu.
Luật Hải quan được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 23/6/2014, đã được cụ thể hóa trong Mục 9 với 5 Điều từ Điều 77 7 đến Điều 82 quy định về KTSTQ. Theo đó KTSTQ là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan. Việc KTSTQ nhằm đánh giá tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà người khai hải quan đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; đánh giá việc tuân thủ pháp luật hải quan và các quy định khác của pháp luật liên quan đến quản lý xuất khẩu, nhập khẩu của người khai hải quan. KTSTQ được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan, trụ sở người khai hải quan.
Trụ sở người khai hải quan bao gồm trụ sở chính, chi nhánh, cửa hàng, nơi sản xuất, nơi lưu giữ hàng hóa. Thời hạn KTSTQ là 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Luật đã quy định rõ về các trường hợp KTSTQ (Điều 78), việc KTSTQ tại trụ sở cơ quan hải quan và trụ sở người khai hải quan (Điều 79, Điều 80), về nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan trong KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan (Điều 81), Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan trong KTSTQ (Điều 82). Ngày 21/03/2019, Tổng cục Hải quan đã ban hành Quyết định số 575/QĐ-TCHQ thay thế Quyết định số 1410/QĐ-TCHQ ngày 14/05/2015 về việc ban hành Quy trình Kiểm tra sau thông quan, có hiệu lực thi hành từ 01/4/2019, qua đó có 02 hình thức kiể m tra sau thông quan: - Tại trụ sở cơ quan Hải quan - Tại trụ sở Doanh nghiệp 1.
Các phương pháp kiểm tra sau thông quan Kiểm tra sau thông quan bao gồm các bước được thực hiện một cách logic, có cấu trúc và tổ chức chặt chẽ. Khi tiến hành kiểm tra sau thông quan phải có quyết định kiểm tra và kết thúc thì có thông báo kết quả kiểm tra hoặc thông báo kết luận kiểm tra. Thời hạn KTSTQ được xác định trong quyết định kiểm tra, nhưng tối đa là 10 ngày làm việc. Thời gian kiểm tra được tính từ ngày bắt đầu tiến hành kiểm tra; trường hợp phạm vi kiểm tra lớn, nội dung phức tạp thì người đã ký quyết định kiểm tra có thể gia hạn một lần không quá 10 ngày làm việc; 8 Quyết định KTSTQ phải gửi cho người khai hải quan trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày ký và chậm nhất là 5 ngày làm việc trước ngày tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật Hải quan năm 2014.
Thẩm quyền quyết định KTSTQ tại trụ sở người khai hải quan là: Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục KTSTQ quyết định KTSTQ trong phạm vi toàn quốc; Cục trưởng Cục Hải quan quyết định KTSTQ trong địa bàn quản lý của Cục; Chi cục KTSTQ quyết định trong trường hợp được Cục trưởng uỷ quyền ký. Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan và Cục trưởng KTSTQ sẽ phân định trách nhiệm quyết định kiểm tra theo từng nhóm đối tượng cụ thế quy định tại Điều 98 Nghị định 08/2015/NĐ-CP. Đồng thời, Luật Hải quan 2014 đã quy định rõ: “Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra, người quyết định kiểm tra phải ký kết luận kiểm tra và gửi cho người khai hải quan. Trường hợp kết luận kiểm tra cần có ý kiến về chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền thì thời hạn ký kết luận kiểm tra được tính từ ngày có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền.
Cơ quan chuyên môn có thẩm quyền có ý kiến trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan Hải quan. Trường hợp người khai hải quan không chấp hành quyết định kiểm tra, không giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu đúng thời hạn cho cơ quan Hải quan thì cơ quan Hải quan căn cứ hồ sơ, tài liệu đã thu thập, xác minh để quyết định xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc thực hiện thanh tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật”. Như vậy, nếu người khai hải quan không chấp hành quyết định kiểm tra thì trước tiên là người khai hải quan sẽ bị xử phạt. Tiếp theo, cơ quan Hải quan sẽ áp dụng biện pháp thanh tra chuyên ngành trong trường hợp cơ quan hải quan chưa đủ cơ sở kết luận.
Trong quá triǹ h kiể m tra, nô ̣i dung kiể m tra đươ ̣c ghi nhâ ̣n ta ̣i Biên bản kiể m tra, kèm các hồ sơ, chứng từ người khai hải quan giải trình , chứng minh. Sự cần thiết phải tổ chức hoạt động kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan Xét trong tổng thể hệ thống kiểm tra hải quan, KTSTQ là khâu nghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại những nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là một công cụ hữu hiệu đối với công tác kiểm tra hải quan, vì nó đưa ra bức tranh rõ ràng và đầy đủ về các giao dịch có liên quan tới hàng hóa xuất nhập khẩu, được phản ánh trong các sổ sách và ghi chép của doanh nghiệp.