CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của nguồn nhân lực trong Sở giáo dục và đào tạo 1. Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong Sở giáo dục và đào tạo 1. Khái niệm nguồn nhân lực Để xây dựng và phát triển bất kỳ doanh nghiệp/tổ chức nào cũng phải dựa vào các nguồn lực cơ bản như: nguồn nhân lực (NNL), tiềm năng về khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn vốn, trong đó nguồn nhân lực (nguồn lực con người) luôn là nguồn lực cơ bản và chủ yếu nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của tổ chức.
Tùy theo cách hiểu và cách tiếp cận khác nhau mà có cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực. Theo báo cáo của Liên hợp quốc đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực đã đưa ra định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực có thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực. Trong quan niệm này, điểm được đánh giá cao là coi các tiềm năng của con người cũng là năng lực khả năng để từ đó có những cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng (World Development Indicators - London: Oxford, 2000) [22].
Theo Nicolas Henry (2007) [19] “nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển nền kinh tế - xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới”. Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức. Ở nước ta, theo Phạm Minh Hạc (2001) [8], cho rằng nguồn nhân lực được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe 8 1 và trí tuệ, năng lực và phẩm chất. Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực được hiểu là sự tổng hòa số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Theo Trần Kim Dung (2005) [6], “nguồn nhân lực của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nguồn nhân lực khác với nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người. Nhân viên có các năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiềm năng phát triển, có khả năng hình thành các nhóm hội, các tổ chức công đoàn bảo vệ quyền lợi của họ, có thể đánh giá và đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ hoặc sự tác động của môi trường xung quanh”. Như vậy, có thể hiểu nguồn nhân lực là lực lượng lao động của từng doanh nghiệp, là số người có trong danh sách của doanh nghiệp do doanh nghiệp trả lương.
Đối với phạm vi đề tài, với các khái niệm nguồn nhân lực nêu trên thì tác giả có thể hiểu: “nguồn nhân lực bao gồm tất cả thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển tổ chức đó. Nguồn nhân lực bao gồm kinh nghiệm, kỹ năng, trình độ đào tạo và những sự tận tâm, nỗ lực hay bất cứ đặc điểm nào khác tạo giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cho tổ chức của những người lao động”. Khái niệm về nguồn nhân lực trong Sở giáo dục và đào tạo Nguồn lực con người trong ngành giáo dục và đào tạo chính là đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, giáo dục, tạo nên chất lượng và hiệu quả của công tác giáo dục và đào tạo. Nguồn lực ấy bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên trường học - đây chính là nội lực của ngành giáo dục và đào tạo.
Nguồn lực ngành giáo dục gồm hai thành tố cơ bản, có mối quan hệ biện chứng với nhau, đó là số lượng và chất lượng nguồn lực cán bộ viên chức ngành giáo dục đào tạo. Số lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với phát triển chất lương giáo dục của Sở. Nếu số lượng không tương xứng với yêu cầu 9 1 phát triển giáo dục, phát triển kinh tế đều tác động không tốt đến sự phát triển giáo dục và đào tạo. Chất lượng nguồn lao động với phẩm chất, đức tính, tâm lý, truyền thống của người Việt Nam – con người có bản chất nhân văn – nhân bản, nhân ái trong quan hệ con người và duy lý, biết sử dụng các quy luật để xây dựng cuộc sống; có nhân cách, ý thức rõ về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; con người lao động có tay nghề cao, sáng tạo ra các giá trị để làm giàu cho mình và cho xã hội.
Cán bộ quản lý giáo dục Cán bộ quản lý (CBQL) là người mà hoạt động nghề nghiệp của họ hoàn toàn hay chủ yếu gắn với việc thực hiện chức năng về quản lý; là người điều hành, hướng dẫn, và tổ chức thực hiện những quyết định của cán bộ lãnh đạo. Cán bộ quản lý giáo dục là CBQL làm việc trong một cơ quan QLGD hoặc trong một cơ sở giáo dục. Chất lượng nguồn nhân lực Có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên có nhiều cách hiểu khác nhau về chất lượng nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mực tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngươi lao động”.
Hay chất lượng nguồn nhân lực có thể được hiểu là: “trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của nguồn nhân lực” (Mai Quốc Chánh và Trần Xuân Cầu, 2003) [3] Có quan điểm cho rằng, chất lượng nguồn nhân lực là giá trị con người, bao gồm cả giá trị vật chất, tinh thần, trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những người lao động có những năng lực và phẩm chất đạo đức, đáp ứng được những yêu cầu ngày càng tăng của sự phát triển của xã hội. 10 1 Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực, được biểu hiện thông qua các tiêu chí: sức khoẻ, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn và phẩm chất tâm lý xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái trí lực, thể lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực. Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động Xã hội do PGS.TS Nguyễn Tiệp [15] chủ biên in năm 2005 thì “Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực, là tố chất, bản chất bên trong của nguồn nhân lực, nó luôn có sự vận động và phản ảnh trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như mức sống của dân cư.” Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực là một khái niệm tổng hợp, phản ánh các thuộc tính về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động, được biểu hiện thông qua thể lực, kiến thức, kỹ năng lao động, tinh thần, thái độ, ý thức và tác phong làm việc.
Đặc điểm của nguồn nhân lực trong Sở Giáo dục và đào tạo Nguồn nhân lực trong ngành Giáo dục và đào tạo là lao động mang tính đặc thù riêng. Là một bộ phần nguồn nhân lực có học vấn cao nhất Nguồn nhân lực giáo dục là lực lượng lao động có trình độ khá cao và được đào tạo cơ bản, hệ thống là chủ yếu. Đội ngũ nhân lực GD & ĐT có trình độ đào tạo khá rộng: Trình độ THCN cho giáo viên mầm non. Trình độ đào tạo Cao đẳng cho giáo viên THCS, tiểu học và mầm non.
Trình độ đào tạo Đại học cho giáo viên THPT, THCS và một bộ phận giáo viên tiểu học, giáo viên mầm non. Trình độ đào tạo Sau đại học (Thạc sĩ, Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học) cho giáo viên cao đẳng, đại học, THPT, cán bộ quản lý, các cơ quan nghiên cứu khoa học. Bộ phận nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục từ giáo viên, giảng viên, chuyên viên, thanh tra viên cho đến các CBQL giáo dục từ Bộ, Sở cho đến Phòng 11 1 đều có một trình độ học vấn khá cao so với nguồn nhân lực nói chung trong nền kinh tế. Kết quả hoạt động của nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo không chỉ phụ thuộc vào bản thân nó mà còn phụ thuộc vào môi trường xã hội Trong hoạt động GD & ĐT, đội ngũ nguồn nhân lực GD & ĐT là lực lượng đóng vai trò nòng cốt, là một hoạt động xã hội đặc thù – hoạt động tái sản xuất nhân cách và năng lực của con người.
Hoạt động của đội ngũ nhân lực GD & ĐT thực chất là giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng những yêu cầu cơ bản của sự nghiệp phát triển nền kinh tế đất nước nói chung và sự nghiệp GD & ĐT nói riêng. Để hoạt động này có hiệu quả thì bản thân nguồn nhân lực GD & ĐT phải đảm bảo về chất lượng, được trang bị những yêu cầu cơ bản về: kiến thức, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, kỹ năng, nghiệp vụ, bề dày kinh nghiệm. Kết quả hoạt động cuối cùng của nguồn nhân lực GD & ĐT là sản phẩm - người học có nhân cách, trình độ, kỹ năng, có khả năng tham gia vào các hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội. Vì thực chất hoạt động của nguồn nhân lực GD & ĐT là đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng, chất lượng và nhằm biến đổi nguồn nhân lực theo từng thời kỳ khác nhau cho phù hợp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế.