CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. Khái niệm hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình. Xã hội loài người là tổng thể các mối quan hệ giữa con người và con người.
Những mối quan hệ đó được hình thành và phát triển theo xu hướng đa dạng, đa chiều và phức tạp, tạo thành những mắt xích trong mạng lưới xã hội liên kết các cá nhân lại với nhau. Khi cá nhân tham gia vào các quan hệ xã hội, nhằm đạt được những lợi ích của riêng mình đã làm xuất hiện những mâu thuẫn, tranh chấp. Để duy trì ổn định, trật tự xã hội, củng cố các mối quan hệ trong xã hội thì phải tìm các biện pháp hóa giải các tranh chấp đó. Một trong các biện pháp giải quyết các tranh chấp đó là hòa giải.
Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp. Trên thế giới có rất nhiều khái niệm khác nhau về hòa giải. Theo Từ điền Black’s Law Dictionary định nghĩa hòa giải (conciliation) là: "sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ" Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư Pháp, thì hòa giải là "việc thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách ổn thỏa" Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau về hòa giải nhưng những khái niệm đó đều cho thấy hòa giải có ba yếu tố: Thứ nhất: Hòa giải để giải quyết tranh chấp giữa hai hay nhiều bên. Thứ hai: Phải có sự thống nhất ý chí giữa hai hay nhiều bên bên để giải quyết tranh chấp thông qua việc mỗi bên nhượng bộ một ít, đi đến kết quả chung.
Thứ ba: Trong quá trình hòa giải phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập (độc lập và không liên quan đến lợi ích của các bên, không đưa ra phán quyết hay quyết định cuối cùng) để cho ý kiến, đồng thời áp dụng thủ tục để công nhận sự thỏa thuận giữa các bên tranh chấp. Như vậy hòa giải được hiểu là một phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội. Pháp luật là một công cụ quản lý của Nhà nước, nhằm duy trì ổn định trật tự xã hội. Khi xây dựng pháp luật thì tất cả các nước đều quy định về hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp về dân sự trong đó có tranh chấp về HN&GĐ.
Tranh chấp về HN&GĐ là những tranh chấp phát sinh từ các quan hệ xã hội do pháp luật HN&GĐ điều chỉnh. Khi các cá nhân tham gia vào quan hệ HN&GĐ, trong quá trình chung sống, xuất hiện những mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp nhau… dần dần những mâu thuẫn đó không được giải quyết dẫn đến những tranh chấp về hôn nhân gia đình. Khi tranh chấp xảy ra các bên có quyền lựa chọn cách thức, biện pháp khác nhau để giải quyết và các bên có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức khác nhau để giải quyết tranh chấp đó. Theo Điều 28 BLTTDS 2015 của nước ta quy định thì những tranh chấp về HN&GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: a.
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.
Tranh chấp về cấp dưỡng. Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật. Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, tất cả tranh chấp trên không phải khi nào Tòa án cũng giải quyết. Khi các tranh chấp về HN&GĐ được Tòa án thụ lý giải quyết thì được gọi là vụ án HN&GĐ. Vụ án HN&GĐ là một dạng cụ thể của vụ án dân sự nói chung. Pháp luật TTDS phân chia thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án làm hai loại đó là: “vụ án dân sự" và "việc dân sự".
Trong đó "Vụ án dân sự" là những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh từ các quan hệ pháp luật dân sự, HN&GĐ, kinh doanh thương mại, lao động được quy định tại các Điều 26, 27, 28, 29, 30. 31, 32 và 33 BLTTDS 2015 do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện và được Tòa án thụ lý. Khi giải quyết vụ án dân sự nói chung và vụ án HN&GĐ nói riêng, Tòa án phải áp dụng hai văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Thứ nhất: Pháp luật TTDS: Quy định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục giải quyết.
Trong đó có quy định về thủ tục hòa giải vụ án được áp dụng chung cho tất cả các dạng cụ thể của vụ án dân sự theo nghĩa rộng. Chủ thể tiến hành hòa giải trong các vụ án HN&GĐ là Tòa án. Thứ hai: Pháp luật về nội dung như Bộ luật Dân sự (BLDS), Luật HN&GĐ,…để giải quyết nội dung tranh chấp giữa các bên như vấn đề nuôi con, tải sản chung, tài sản riêng, cấp dưỡng nuôi con,… Như vậy hòa giải vụ án HN&GĐ là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận vềviệc giải quyết những tranh chấp về HN&GĐ theo quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Đặc điểm của hòa giải vụ án hôn nhân và gia đình.
Hòa giải vụ án HN&GĐ được thực hiện theo thủ tục hòa giải các vụ án dân sự nên nó cũng mang những đặc điểm chung của hòa giải vụ án dân sự như: Thứ nhất: Hòa giải là một thủ tục bắt buộc đối với hầu hết các vụ án dân sự tại thời điểm do pháp luật quy định. Đặc điểm này xuất phát từ đặc trưng của các quan hệ pháp luật dân sự đó là quyền tự định đoạt, tự do thỏa thuận theo quy định pháp luật khi tham gia vào các quan hệ pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình, nên hòa giải là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình và pháp luật TTDS. Đặc biệt, dựa vào đặc thù của ngành luật hôn nhân gia đình đó là sự khác biệt về đối tượng điều chỉnh của nó là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân gia đình như hôn nhân, sinh đẻ và nhận nuôi con nuôi dẫn đến giữa các bên đương sự luôn luôn có quan hệ về mặt tình cảm (tình cảm là yếu tố đặc trưng trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, nó làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ hôn nhân gia đình), các quan hệ này tồn tại lâu dài, bền vững, mà chủ thể chỉ có thể là các cá nhân mà không phải là tổ chức, hay pháp nhân. Do đó việc áp dụng các quy định về hòa giải trong giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình là rất quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự trong vụ án liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thứ hai: Hòa giải là sự thỏa thuận của các đương sự. Đương sự trong các vụ án dân sự về hôn nhân gia đình là những người có quyền và nghĩa vụ cần phải giải quyết, thường là những chủ thể có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng… Mục đích của hòa giải là giúp đỡ các bên đạt được những thỏa thuận nhằm chấm dứt các tranh chấp. Sự thỏa thuận này có Tòa án giữ vai trò là bên trung gian, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận một cách hợp lý, có lợi nhất cho quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Tuy nhiên sự thỏa thuận giữa vợ hoặc chồng, giữa cha mẹ với những có quyền lợi nghĩa vụ phát sinh từ tranh chấp phải đạt được trên cơ sở thương lượng một cách trung thực, hợp tình, hợp lý, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức của xã hội.
Trong thương lượng không một ai, không một bên nào với bất kì hình thức nào có thể cưỡng ép hoặc can thiệp vào sự thỏa thuận của các đương sự. Ngay cả cơ quan, chủ thể làm trung gian là Tòa án là cơ quan Tư pháp mang quyền lực Nhà nước cũng không thể can thiệp, hay cưỡng ép sự thỏa thuận, mà chỉ có vai trò trung gian bên thứ ba giúp đỡ các bên thỏa thuận với nhau mà không được quyền can thiệp vào những thỏa thuận đó. Thứ ba: Tòa án là cơ quan duy nhất tiến hành hòa giải vụ án dân sự Xuất phát từ khái niệm về vụ án dân sự đó là những tranh chấp dân sự được Tòa án thụ lý thì gọi là vụ án dân sự, do đó hòa giải vụ án dân sự hay vụ án HN&GĐ chỉ do Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền tiến hành hòa giải. Hòa giải trong vụ án HN&GĐ là hòa giải trước Tòa án, hay còn gọi là hòa giải trong quá trình tố tụng và được thực hiện với sự hiện diện của Thẩm phán.
Tòa án có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình hòa giải, có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự hòa giải với nhau, giúp cho các bên đương sự hiểu rõ pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đang tranh chấp, giải thích cho họ về hậu quả pháp lý trong trường hợp hòa giải thành và hòa giải không thành. Bên cạnh những đặc điểm chung thì hòa giải vụ án HN&GĐ có những đặc trưng riêng biệt khác với hòa giải những vụ án dân sự khác như: Thứ nhất: Trong một số trường hợp, hòa giải vụ án HN&GĐ không chấp nhận việc ủy quyền cho người khác khi tham gia tố tụng. Trong quan hệ HN&GĐ thì quan hệ nhân thân là nhóm quan hệ chủ đạo và có ý nghĩa quyết định. Điều đó có nghĩa là khi các cá nhân tham gia vào quan hệ pháp luật HN&GĐ thì giữa họ phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân.