Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và các vấn đề him quan Trinh bày tông quan tinh hình nghiên cứu về ADYN nói chung, ADYN về hôn nhân và gia đình nói riêng trên thế giới và ở Việt Nam. Xác định các vấn đề lý thuyết quan yếu về ADYN làm cơ sở nghiên cứu của đề tài. Trình bày quan niệm về hôn nhân và gia đinh cua người Việt và sự chi phối cùa các ycu tố văn hóa đến những quan niệm này. - Chương 2: Àn dụ ý niệm về hôn nhân Khảo sát các ADYN có MĐ HÔN NHẢN, có MĐ (NGƯỜI) VỢ và MĐ (NGƯỜI) CHÒNG.
Lý giải CƠ sờ tri nhận, động lực hình thành và phân tích mô hình 4 ánh xạ của các ADYN cụ thề. Giải mã quan niệm của người Việt về hôn nhân, về người vợ và người chồng qua từng AĐYN. - Chương 3: Ẩn dụ ý niệm về gia đình Khảo sát các ADYN có MĐ GIA ĐÌNH, có MĐ BỔ MẸ và MĐ CON CÁI. Lý giải cơ sở tri nhận, động lực hình thành và phân tích mô hình ánh xạ của các ADYN cụ the.
Giải mã quan niệm của người Việt về gia đình, cha mẹ và con cái qua từng ADYN. 5 Chuông 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu VÀ CÁC VÁN ĐÈ HỮU QUAN 1. Tổng quan tình hình nghiên cún 1. Tình hình nghiên cún về ấn dụ ý niệm 1.
Các nghiên cứu ỏ’ nước ngoài ADYN là một nội dung quan trọng cúa Ngôn ngữ học tri nhận. Nó đã được các nhà ngôn ngừ học trên thế giới phân tích một cách toàn diện trong mối tương quan chặt chẽ với các vấn đề khác của ngôn ngừ học tri nhận. Công trình đầu tiên trình bày một cách sâu sắc về khái niệm ADYN là Metaphors We live bỵ (Chúng ta song bang ấn dụ) cùa George Lakoff và Mark Johnson được xuất bàn năm 1980. Các tác giả đã chi ra rằng “chúng ta sổng bằng ý niệm” vì “ẩn dụ tồn tại khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày, không chỉ trong ngôn ngừ mà cà trong tư duy và hành động”.
Metaphors We live bỵ trình bày một cách tường tận và mạch lạc các khía cạnh của ADYN như: thế nào là ADYN. hệ thống cùa ý niệm mang tính ấn dụ, hệ thống cùa ẩn dụ, các loại ân dụ, mối quan hệ giữa ấn dụ và vãn hóa, cơ sờ hình thành các ADYN, cẩu trúc tương hợp cùa trài nghiệm, những dạng tương hợp giữa các ẩn dụ, mối quan hệ giữa ẩn dụ và thực tể, một sổ giá trị ứng dụng cùa ADYN. Bời vậy, tác phẩm này được xem là “kinh thánh” của ADYN. Dựa vào nó, nhiều công trình nghiên cứu về ADYN đã được tiến hành và đạt được thành quả đáng ghi nhận.
Sau thành tựu của Metaphors We live by, ADYN tiếp tục được quan tâm nghiên cứu ngày một sâu sắc. Có thế điếm qua một số công trình tiêu biếu theo tiến trình thời gian sau: Năm 1986, trong công trình Metaphors of Anger, Pride and Love: A Lexical Approach to the Structure of Concepts (Ân dụ ý niệm về sự giận dừ, niềm kiêu hãnh và tình yêu: Một cách tiếp cận từ vựng học về cẩu trúc của các ý niệm), Kõvecses phát biêu rằng ADYN về cảm xúc được hình thành trcn cơ sớ sinh lý cùa con người trong sự tương hòa với các thành tố văn hóa. Năm 1987, trong The Body in the Mind: The Bodily Basis of Meaning, Imagination, and Reason (Thân thể trong tâm trí: Cơ sờ thân thế cùa ý nghĩa, sự tường tượng và lý trí), Johnson trình bày về sơ đô hình ảnh, cấu trúc AD và cơ sở vật chất của 6 chúng; trong Women, Fire, and Dangerous Things: What Categories Reveal About the Mind (Phụ nữ, lửa và những vật nguy hiểm: Những phạm trù biểu lộ về tàm trí), Lakoff trình bày về vai trò tiling tâm của ADYN và những tác động của nó đối với ngừ pháp của một số ngôn ngừ; trong Foundation of Cognitive Grammar (Cơ sờ của ngừ pháp tri nhận), Langaker cũng chi ra nhừng ảnh hưởng của ADYN đối với ngừ pháp. Năm 1989, trong More than cool reason: A field guide to poetic metaphor (Hơn cà lý trí lạnh lùng: Một lĩnh vực hướng dẫn về ấn dụ ý niệm trong thơ ca), Lakoff và Turner đã đề cập đến bản chất bên trong của ADYN và chỉ ra ràng, sự ánh xạ từ MN tới MĐ là sự ánh xạ không hoàn toàn.
Năm 1997, trong Foundations of meaning: Primary metaphors and primary scenses (Cơ sờ của ngừ nghĩa: Àn dụ ý niệm sơ cấp và ngữ cảnh sư cấp), Joseph Grady cho ràng ADYN phức được hình thành từ những ADYN sơ cấp - những ADYN được hình thành từ sự liên kết của các trải nghiệm trong cuộc sống hàng ngày với miền phán đoán chú quan của chúng ta. Năm 2002, Kõvecses viết Metaphor: A Practical Introduction (Àn dụ ý niệm: Sự giới thiệu mang tính thực hành), khắng định một lần nữa các vấn đề cốt lõi của ADYN bao gồm: khái niệm và cấu tạo; các miền nguồn và miền đích phổ biến; các loại ẩn dụ; hiện thực phi ngôn ngữ của ân dụ; nền tảng cúa ân dụ; bản chất ưu tiên của sự ánh xạ ý niệm; mô hình tri nhận, ẩn dụ và sự nghiệm thân; những sự kế thừa mang tính ẩn dụ; phạm vi cùa ân dụ; hệ thông ân dụ; sự khác nhau vê vãn hóa trong ân dụ và hoán dụ; phân biệt ấn dụ với hoán dụ và thành ngữ; ứng dụng cúa ấn dụ trong việc nghiên cứu ngôn ngừ, ân dụ và sự pha trộn; ân dụ trong diễn ngôn. Cũng trong năm 2002, với The Way We Think: Conceptual Blending and the Mind’s Hidden Complexities (Cách chúng ta suy nghĩ: Sự pha trộn ý niệm và sự phức tạp tiềm ân của tâm trí), Fauconnier và Turner đã trình bày lý thuyết không gian pha trộn và khăng định cơ sở vật lý của quá trình ánh xạ từ MN đến MĐ trong ẩn dụ giống \ * một bản đô thân kinh. Năm 2003, với công trình Metaphors in Education Discourse (Án dụ trong diễn ngôn giáo dục), Cameron đã bàn về việc sử dụng ADYN trong dạy học và quả quyết rằng ấn dụ không chì là công cụ giao tiếp mà còn là biếu hiện cùa cách con người ý niệm hóa về thực tể khách quan.
7 Năm 2005, trong Metaphors in Culture: Universality and Variation (Ân dụ ý niệm trong văn hóa: Tính phổ quát và sự biến đối), Kõvecses tiếp tục củng cố quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận về sự tương quan chặt chẽ giữa ẩn dụ và văn hóa, trong đó, tác gia đặc biệt nhấn mạnh đốn những nhân tố đưa đến sự tương đong và khác biệt trong ẩn dụ ý niệm. Năm 2006, trong Cognitive Linguistics - An introduction (Ngôn ngừ học tri nhận - Giới thiệu), V.Green tiếp tục khắng định về vai trò làm công cụ cúa tư duy và nhận thức của ADYN trong cuộc sống của chúng ta; trong Embodiment and Cognitive Science (Nghiệm thân và khoa học tri nhận), Gibbs mô ta các bang chứng thực nghiệm và khăng định một lần nữa về vai trò của sự nghiệm thân đối với tâm trí của con người trong việc tạo ra các ADYN; trong Language, mind, and culture. A practical introduction (Ngôn ngừ, tâm trí và văn hóa. Một sự giới thiệu mang tính thực hành), Kồvecses làm rõ mối quan hệ mật thiết giữa ngôn ngừ.
tâm trí và văn hóa và đặc biệt nhấn mạnh rang ADYN nằm trong khung văn hóa cho nôn chúng có sự biến đổi qua các nền văn hóa. Năm 2010, trong Why we mix metaphors (and mix them well): Discourse coherence, conceptual metaphor, and beyond (Tại sao chúng ta trộn ân dụ ý niệm (và trộn chúng tot): Mạch lạc của diễn ngôn, ẩn dụ ý niệm và hơn thế nữa), Kimmel khám phá ra rằng ADYN được pha trộn một cách rất tự nhiên trong diễn ngôn, nó là một phương tiện liên kết bên trong của lời nói, là phương tiện hữu hiệu tạo ra mạch lạc »*• trong diên ngôn. Cũng trong năm 2010, với công trình Researching and Applying Metaphor in the Real World (Nghiên cứu và ứng dụng ân dụ vào thế giới thực tế), Low, Todd, Deignan và Cameron đà trình bày về việc nghiên cứu và ứng dụng ADYN trong thế giới thực bang 17 nghiên cứu chi tiết, chu yếu dựa trên thực nghiệm, bao gom các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, dạy và học ngôn ngữ, đối thoại hòa giải, diễn ngôn ở giảng đường đại học, thơ và mô tả rượu. Bằng các phương pháp phân tích ngữ liệu, thử nghiệm, phân tích diễn ngôn, phân tích đa văn hóa và phân tích the loại, các tác giả đã xem xét ADYN trong bối cảnh xã hội và diễn ngôn mà chúng được sữ dụng, đồng thời chỉ ra vai trò cúa chúng trong từng lĩnh vực thể giới thực.
Năm 2015, trong Where Metaphors Come From. Reconsidering Context in Metaphor (Án dụ đến từ đâu. Xem xét lại bối cảnh trong ẩn dụ), Kõvecses cho đã cũng 8 Cố và phát triển lý thuyết ADYN trước đó. Ông cho rằng, quan điểm ADYN được hình thành dựa trên trai nghiệm thân thề con người như trong truyền thống nên được diễn đạt lại, không nên xem kinh nghiệm từ thân thể con người là cơ sở duy nhất của ADYN mà chi nên xem nó là cơ sở quan trọng, mang tính quyết định.
Òng khắng định ràng, ngoài những trải nghiệm mang tính nghiệm thân của thân thể con người, ADYN còn được bắt nguồn từ các trải nghiệm về các tình huống mà con người hành động và dẫn dắt cuộc sống cùa họ; các diễn ngôn mà trong đó con người tham gia, tương tác với nhau; kiến thức khái niệm mà họ đã tích lũy được về thế giới trong quá trình họ trai nghiệm nó. Năm 2017, trong Cultural Linguistics (Ngôn ngừ học vãn hóa), Sharifian khẳng định sự chi phoi của văn hóa đối với ngôn ngừ nói chung và ADYN nói riêng. Ông đưa ra khái niệm ADYN văn hóa (cultural metaphors) và khẳng định ràng, đó là những ý niệm xuyên miền dựa trên các truyền thống văn hóa như y học dân gian, the giới quan hoặc hệ thống tín ngưỡng tâm linh; các ngôn ngữ khác nhau sẽ có những ADYN văn hóa không giống nhau. Ngoài các công trình nghiên cứu cùa các nhà khoa học được thế giới vinh danh ở trên, trong các tạp chí ngôn ngừ, các hội thảo Ngôn ngữ học quốc tế, vấn đề ADYN cũng được đề cập rất nhiều.
Bên cạnh việc khăng định các đặc trưng của ADYN, việc ứng dụng lý thuyết ADYN vào nghiên cứu ngôn ngừ cụ thể cũng được tiến hành một cách mạnh mẽ. Các nghiên cứu theo hướng này tăng cá về số lượng lẫn chất lượng theo thời gian. Cho đến nay, có the khăng định một cách chắc chắn rằng, số lượng các nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm là vô cùng lớn, khó có thể thống kê hết được.