Chương 1 SƠ LƯỢC VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ HÁN – VIỆT 11 1. KHÁI NIỆM VỀ TIẾP XÚC NGÔN NGỮ “Tiếp xúc ngôn ngữ” là cụm từ đã được sử dụng như một thuật ngữ ngôn ngữ học chỉ một hiện tượng khá phổ biến trong các ngôn ngữ trên thế giới. Nó xảy ra khi con người sử dụng hai hay nhiều ngôn ngữ cùng lúc. Nói cách khác, nó xuất hiện khi có hiện tượng song ngữ hay đa ngữ, do nguyên nhân địa lý hoặc một số nguyên nhân khác như chính trị, kinh tế, lịch sử, văn hóa v.
Nói đến “tiếp xúc ngôn ngữ” là nói đến sự ảnh hưởng, sự tác động của ngôn ngữ này đối với ngôn ngữ kia. Mức độ ảnh hưởng tùy theo từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, ưu thế bao giờ cũng thuộc về ngôn ngữ có trình độ phát triển cao hơn. Biểu hiện rõ nhất của hiện tượng tiếp xúc là ngôn ngữ này vay mượn từ ngữ và những phương thức cấu tạo của ngôn ngữ kia.
KẾT QUẢ CỦA QUÁ TRÌNH TIẾP XÚC NGÔN NGỮ Lí thuyết về “tiếp xúc ngôn ngữ” đã có mầm mống lâu dài và được nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước nghiên cứu, như L. Jarceva, Hồ Lê, Phan Ngọc, Bùi Khánh Thế, Lê Đình Khẩn v. Qúa trình tiếp xúc ngôn ngữ khá đa dạng. Để dễ hình dung, có thể mô tả sự tiếp xúc giữa ngôn ngữ A và ngôn ngữ B bằng hai hình tròn và các tình huống sẽ xảy ra như sau: 1.
A và B có sự “giao thoa”, nghĩa là giữa chúng có ảnh hưởng qua lại hai chiều: A vay mượn từ ngữ của B và ngược lại (xem hình 1.1 miêu tả: trong A có B’ và trong B có A’. A luôn tiềm ẩn xu hướng đồng hóa B và ngược lại. A’ và B’ là những đơn vị ngôn ngữ vừa mang tính chất của A vừa mang đặc điểm của B. Trong các ngôn ngữ vùng Đông Á thì có thể lấy tiếng Hán và tiếng Nhật làm ví dụ điển hình cho tình huống tiếp xúc này.
Từ thời kì trung đại trở về trước, người Nhật vay mượn hàng loạt từ đơn Hán qua chữ Hán để bổ sung cho ngôn ngữ Nhật. Nhưng sang đến thời kì cận đại, hiện đại thì người Hán lại vay mượn hàng loạt từ ghép và thuật ngữ trong tiếng Nhật để bổ sung cho tiếng Hán. Ví dụ: từ “cách mạng” trong tiếng Hán là từ mượn từ tiếng Nhật nhưng “cách” và “mạng” là hai ngữ tố mà trước đây tiếng Nhật mượn từ tiếng Hán. Sau đó, người Nhật đã dùng từ cũ để dịch nghĩa mới, dịch trực tiếp từ từ “revolution” (cách mạng) trong tiếng Anh.
Người Nhật dùng chữ Hán để tự tạo ra hoặc dịch những từ ngữ Ấn - Âu, sau đó tiếng Hán mượn trở lại. Những từ này được người Nhật tạo ra dựa trên chất liệu chữ Hán, từ đơn Hán. Sự vay mượn ấy “có đi có lại” minh bạch, công bằng, đôi bên cùng có lợi, không ai áp đảo ai [38, tr. 13 Tiếng Việt cũng vay mượn theo hình thức vừa phiên âm vừa dịch nghĩa ngôn ngữ phương Tây.
Các từ: quán ba, vũ ba lê, nhà ga, fan hâm mộ, xe taxi, xe buýt, hi xin chào v. được mượn nguyên xi âm và nghĩa từ tiếng Anh, Pháp: bar, ballet, gare, fan, taxi, bus, hi v. được sử dụng phổ biến trong đời sống hàng ngày. Hình thức vay mượn này thể hiện sự Việt hóa tích cực.
Nó xuất phát từ nhu cầu bổ sung nghĩa cho từ mượn, góp phần giải quyết hiện tượng tối nghĩa trong các từ vay mượn. A lấn lướt và thôn tính B (xem hình 1.2, có thể thấy, khi mọi điều kiện tiếp xúc đều có lợi cho ngôn ngữ A thì nó có thể từ chỗ lấn lướt dần ngôn ngữ B đến chỗ gần như xóa sổ ngôn ngữ B ngay trên mảnh đất và dân tộc đã sản sinh ra B. Ngôn ngữ của các dân tộc chậm phát triển ở các nước thuộc Châu Phi, Châu Á, Châu Mĩ La tinh, Châu Úc đã chịu số phận của ngôn ngữ B khi ngôn ngữ các nước thực dân hùng mạnh như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha v. 14 Ngay trong những quốc gia có nhiều dân tộc chung sống với nhiều ngôn ngữ khác nhau thì trong số đó sẽ có một ngôn ngữ được dùng làm “tiếng phổ thông”, được xem là “quốc ngữ”.
Dần dần “quốc ngữ” sẽ lấn lướt và gần như thay thế những ngôn ngữ còn lại. Thời gian để nó thay thế có thể là vài trăm năm hay lâu hơn, tùy theo sức sống và giòng máu truyền thống của từng dân tộc. Trung Quốc có trên 50 dân tộc với ngần ấy ngôn ngữ. Nhưng ngày nay, nhiều ngôn ngữ trong số đó đã bị mất hiệu quả sử dụng hoặc chỉ còn lại như một thứ bảo tồn văn hóa dân tộc mà thôi.
Chúng đã phải nhường chỗ cho tiếng Hán. Việt Nam và một số nước khác ở khu vực Châu Phi cũng có tình hình như vậy. Có thể dễ dàng nhận thấy điều này giữa ngôn ngữ của dân tộc Kinh với ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam như MNông, Tày, Nùng, Mường v. Nếu mở rộng tầm nhìn ra phạm vi toàn cầu thì mọi người đều có thể dễ dàng nhận thấy sức lấn lướt mạnh mẽ của tiếng Anh, một thứ ngôn ngữ được sử dụng gần như là “quốc tế ngữ”.
Trở về với lịch sử, hàng trăm năm trước đây, người Anh đã ngạo mạn tuyên bố “Mặt trời không bao giờ lặn trên đế quốc Anh”. Và rồi, tiếng Anh theo chân đoàn quân xâm lược, theo các nhà tư bản đi khắp thế giới. Một số ngôn ngữ của các dân tộc chậm phát triển đã phải nhường chỗ cho tiếng Anh. Thêm vào đó, tiếng Anh ngày càng có uy lực khi là “quốc ngữ” của nhiều nước phát triển, văn minh và giàu mạnh như Mỹ, Anh, Úc, Singapo, Canada v.
A chiếm vị thế quan trọng trong B cả về mặt số lượng cũng như về chất lượng. Tuy nhiên, xu thế lấn lướt hoặc thay thế diễn ra rất chậm và khó xảy ra nhờ có sức đề kháng mạnh mẽ của B.3 Có thể lấy hiện tượng tiếp xúc giữa tiếng Hán và tiếng Việt để làm ví dụ cho trường hợp này (xem phụ lục). Tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt Do xuất phát từ mục đích nghiên cứu tiếng Việt nên hễ nói đến tiếp xúc ngôn ngữ giữa tiếng Hán và tiếng Việt là người ta nghĩ ngay đến chiều ảnh hưởng của tiếng Hán đối với tiếng Việt. Sỡ dĩ như vậy vì dựa trên một thực tế rất dễ nhận ra là con số có tính áp đảo các đơn vị gốc Hán trong hệ thống từ vựng tiếng Việt khiến người ta không thể không chú ý.
Mặc dù ở phong cách khẩu ngữ, từ Hán chỉ chiếm tỉ lệ 25% - 30%, nhưng ở phong cách bút ngữ thì tỉ lệ ấy không dưới 90% [38]. Có những văn bản Việt được ghép lại bởi hoàn toàn những từ vay mượn từ tiếng Hán, theo ngữ pháp tiếng Việt. Các chuyên danh (tên riêng) tiếng Việt thì hầu hết như vậy. Ví dụ: 16 Bộ môn ngôn ngữ học Khoa văn học và ngôn ngữ Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh Trường hợp này, tất cả 30 tiếng (âm tiết, từ đơn) đều mượn từ tiếng Hán.
Ranh giới giữa tiếng Việt và tiếng Hán không rõ ràng nữa nếu viết ra bằng chữ Hán và không có sự kiềm chế của trật tự ngữ pháp tiếng Việt. Có một điểm khiến các nhà Việt ngữ học quan tâm là hiện tượng tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt xảy ra lâu đời, dai dẳng, sâu sắc và không ngừng nghỉ. Môi trường tiếp xúc thì luôn tiềm tàng. Dựa vào thành quả nghiên cứu của các học giả trước đây, có thể điểm qua vài nét về quá trình tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt như sau: 1.
Nguyên nhân dẫn đến tiếp xúc ngôn ngữ Hán – Việt 1. Những nguyên nhân khách quan (1a) Điều kiện địa lý núi liền núi, sông liền sông, người Việt và người Hán có thể dễ dàng qua lại giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa. Tình hình cư trú đan xen giữa kiều dân và người bản xứ, giữa quân xâm lược chiếm đóng và dân bản địa. (1b) Người Hán từ xa xưa cho đến tận bây giờ luôn có dã tâm đồng hóa người Việt và mở rộng, lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải.
(1c) Xu hướng di dân về phía Nam của người Hán có từ xa xưa và không bao giờ hết khao khát làm điều đó. Người Hán di cư dần dần trở thành các 17 thành viên thuộc xã hội tại chỗ. Họ gầy dựng cuộc sống riêng của mình theo mô thức văn hóa Hán. Họ mang đến Việt Nam vốn từ ngữ và kỹ thuật Hán.
Nhưng họ phát triển tất cả theo quan điểm riêng, dựa rất nhiều vào di sản thuộc miền đất họ đến sinh sống. (1d) Quan hệ lệ thuộc của người Việt với người Hán diễn ra lâu đời, nhất là ở phương diện văn hóa. (1e) Trung Hoa sớm có hệ thống văn tự khá hoàn thiện. Chữ Hán là loại chữ có nguồn gốc tượng hình, ghi ý tồn tại và phát triển cho đến ngày nay.
Chữ Hán đã có đóng góp đáng kể trong lịch sử phát triển của tiếng Hán và dân tộc Hán. Nó đã lưu giữ được những sản phẩm văn hóa tinh thần quý giá của dân tộc Hán và các dân tộc sống lân cận trước đây từ mấy chục thế kỉ cho đến tận ngày nay [38, tr. Ngoài chức năng văn tự dùng để ghi chép ngôn ngữ Hán, chữ Hán còn là một sản phẩm nghệ thuật rất hấp dẫn – nghệ thuật thư pháp. Điều này một phần nào được nhà văn Nguyễn Tuân miêu tả qua tài năng của nhân vật Huấn Cao, một nghệ sĩ tài hoa trong lĩnh vực viết thư pháp ở tác phẩm Chữ người tử tù.
(1f) Trung Hoa sớm có nền văn hóa phát triển, có nhiều nhà lập thuyết với nhiều học thuyết nổi tiếng. Ngôi sao sáng nhất xuyên suốt nhiều thời kì lịch sử Trung Quốc là Khổng Tử với học thuyết Nho giáo do ông sáng lập. Học thuyết ấy đã chi phối toàn bộ nền triết học phương Đông ở diện rộng cũng như trong bề sâu. (1g) Nền văn chương, học thuật của Trung Hoa ưu việt, rực rỡ và được ghi lại đầy đủ.
Kinh thi, Đường thi, Sở từ, Tống từ là những cống hiến lớn lao không chỉ cho Trung Quốc mà cho cả nền thi ca thế giới. Những bộ tiểu thuyết đồ sộ Hồng Lâu mộng, Tây du kí, Tam quốc diễn nghĩa, Thủy Hử v. là những kiệt tác tầm cỡ và nổi tiếng khắp thế giới. 18 (1h) Y học, vật lý và các ngành khoa học kĩ thuật khác của Trung Hoa sớm đạt nhiều thành tựu.