Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương TP.HCM

Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương, TP HCM.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận thạc sĩ

2015

82
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương

Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương, tọa lạc tại TP.HCM, là một trong những cơ sở y tế hàng đầu với quy mô 700 giường bệnh nội trú và 28 khoa lâm sàng. Bệnh viện không chỉ là nơi cấp cứu mà còn là trung tâm khám chữa bệnh nội trú, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi ngày. Đội ngũ bác sĩ và nhân viên y tế tại đây đều có trình độ chuyên môn cao, tận tâm với nghề, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ y tế. Tuy nhiên, thực trạng hiện tại vẫn còn tồn tại những vấn đề cần cải thiện, như cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ nhu cầu và chất lượng phục vụ chưa đồng đều. Như một bệnh viện đa khoa hạng I, Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương cần chú trọng hơn đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú để phục vụ tốt hơn cho bệnh nhân.

1.1. Cơ cấu tổ chức và chức năng

Bệnh viện được tổ chức thành nhiều khoa, trong đó có khoa Thận Tiết Niệu và Tim Mạch. Mỗi khoa đảm nhiệm các chức năng khác nhau, từ khám chữa bệnh đến đào tạo nhân lực y tế. Khoa Thận Tiết Niệu có 40 giường bệnh và khoa Tim Mạch có 50 giường bệnh. Việc tổ chức khoa học giúp tối ưu hóa quy trình khám chữa bệnh, tuy nhiên, vẫn cần cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe để nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân.

II. Thực trạng chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú

Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng dịch vụ tại Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương chưa đạt yêu cầu mong đợi từ bệnh nhân. Mặc dù bệnh viện có cơ sở vật chất tương đối tốt, nhưng tình trạng bệnh nhân nằm giường tạm vẫn diễn ra, đặc biệt là tại khoa Thận Tiết Niệu. Hệ thống vệ sinh chưa đảm bảo sạch sẽ, thiếu các thiết bị cần thiết như xà phòng và dung dịch rửa tay. Điều này ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân và cần có các giải pháp cải thiện kịp thời.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của bệnh nhân

Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như cơ sở vật chất, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, và quy trình khám chữa bệnh đều ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ y tế. Đặc biệt, yếu tố đáp ứnghữu hình là hai yếu tố cần được cải thiện nhiều nhất. Bệnh viện cần chú trọng đến việc cải thiện những khía cạnh này để nâng cao tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của bệnh nhân.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ

Để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú, Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương cần triển khai một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần cải thiện cơ sở vật chất, đảm bảo mỗi bệnh nhân có giường nằm riêng và trang bị đầy đủ các tiện nghi cần thiết. Thứ hai, đào tạo nhân viên y tế về kỹ năng giao tiếp và chăm sóc bệnh nhân để nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Cuối cùng, bệnh viện cần áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ bệnh án để tăng cường hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh.

3.1. Giải pháp cải thiện cơ sở vật chất

Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang bị thêm giường bệnh, thiết bị vệ sinh đầy đủ. Cần có hệ thống camera an ninh để bảo đảm an toàn cho bệnh nhân. Việc cải thiện cơ sở vật chất không chỉ nâng cao chất lượng dịch vụ mà còn tạo cảm giác thoải mái cho bệnh nhân, từ đó tăng cường sự hài lòng và tin tưởng vào bệnh viện.

07/01/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại bệnh viện đa khoa trưng vương tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thiết lập mối quan hệ thầy thuốc- người bệnh. Bác sĩ chăm sóc chính có vai trò trung tâm trong điều trị bệnh nhân, đồng thời cũng là người giúp họ có một chi phí hợp lý nhất cho việc điều trị. Thêm nữa việc bác sĩ cam kết chân thành, trung thực và minh bạch khi cung cấp dịch vụ của mình cho bệnh nhân và giải thích cho họ hiểu về sức khỏe hiện tại và tương lai của họ là yếu tố quan trọng, tiên quyết, ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người bệnh. Bên cạnh đó còn có một số lý do bệnh nhân chưa hài lòng về chất lượng dịch vụ nội trú tại hai khoa nói riêng và Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương (Lê Thanh Chiến, 2013) nói chung như sau: 10 Bảng 2.1: Một số lý do không hài lòng về dịch vụ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Trưng Vương (Lê Thanh Chiến, 2013) Lý do không hài lòng Số trường hợp Tỷ lệ % Chờ đợi xe cấp cứu lâu 34 12.27 Xe không đến, chuyển lòng vòng 10 3.61 Bác sĩ, điều dưỡng chưa tận tình 31 10.76 Môi trường cảnh quan bệnh viện 63 21.88 chưa sạch sẽ Chi phí viện phí cao 18 6.25 An ninh chưa đảm bảo 36 12.50 Phương tiện không đầy đủ, cơ sở 42 14.58 vật chất cũ kỹ Thủ tục hành chính rườm rà 54 18.75 Tổng cộng 288 100 Qua các số liệu trên ta thấy ý kiến của bệnh nhân khi tham gia điều trị nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương còn chưa hài lòng về một số dịch vụ như gọi xe cấp cứu, môi trường cảnh quan, an ninh chiếm tỷ lệ khá cao (21.

Bên cạnh đó phương tiện, trang thiết bị và thủ tục hành chính rườm rà cũng là những vấn đề bệnh viện cần giải quyết (14. Chi phí là điều quan tâm không quá lớn với đa số người bệnh. Trong các chương tiếp theo, khóa luận sẽ tập trung phân tích các nguyên nhân chủ quan cụ thể có tác động đến chất lượng dịch vụ của bệnh viện. Từ đó khóa luận sẽ đề xuất các giải pháp thích hợp đồng thời đánh giá các giải pháp này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương.

11 Chương 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ỨNG DỤNG CHO ĐỀ TÀI 3. Một số khái niệm cơ bản 3. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là một loại hàng hóa kinh tế đặc biệt, vô hình khác biệt so với các sản phẩm hàng hóa hữu hình khác. Các nhà nghiên cứu có quan điểm khác nhau về dịch vụ, nghiên cứu này giới thiệu một số khái niệm được trích dẫn sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau như sau: Theo Zeithaml & Britner (2000) dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng.

Theo Lovelock & Wirtz (2004), dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo giá trị và cung cấp lợi ích cho khách hàng tại thời gian cụ thể và địa điểm cụ thể như là kết quả của một sự thay đổi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận (sử dụng) dịch vụ. Theo Kotler & Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. Trong khóa luận này dịch vụ chăm sóc sức khỏe được hiểu là toàn bộ các quá trình, các giải pháp mang lại những tiện ích cung cấp cho người bệnh nhằm đáp ứng các nhu cầu về khám chữa bệnh của họ. Như vậy có thể có hiểu dịch vụ là những hoạt động tạo ra lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về một hoạt động nào đó.

Các nhà nghiên cứu có thể có cách định nghĩa dịch vụ khác nhau tuy nhiên thống nhất với nhau về tính chất dịch vụ. Theo Nguyễn Đình Phan và cộng sự (2006) đưa ra một số đặc điểm của dịch vụ như sau: 12  Tính vô hình: Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm mang tính vô hình, chúng không có hình thái rõ rệt, người sử dụng không thể thấy nó hoặc cảm nhận về nó trước khi sử dụng. Khách hàng chỉ có thể cảm nhận về chất lượng dịch vụ khi họ sử dụng nó, tương tác với nó và không thể biết trước chất lượng dịch vụ. Hay nói cách khác chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào cảm nhận chủ quan của người sử dụng, rất khó để có thể đo lường một cách chính xác bằng các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể.

 Tính không đồng nhất: Chất lượng dịch vụ không có tính đồng nhất giữa các thời điểm thực hiện dịch vụ và nó còn phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân của khách hàng về dịch vụ. Cùng một chu trình cung cấp dịch vụ nhưng cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng tại những thời điểm khác nhau có thể khác nhau, cảm nhận cùng một dịch vụ của các cá nhân khác nhau có thể khác nhau, dịch vụ có thể được đánh giá từ mức kém đến mức hoàn hảo bởi những khách hàng khác nhau phụ thuộc vào kỳ vọng của họ. Do đặc điểm về tính không đồng nhất của dịch vụ làm cho việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm hữu hình khác.  Tính không thể tách rời: Tính không thể tách rời của dịch vụ được thể hiện ở sự khó khăn trong việc phân biệt giữa việc tạo thành dịch vụ và việc sử dụng dịch vụ như là hai công việc hay hai quá trình riêng biệt.

Một dịch vụ không thể tách bạch được thành hai quá trình riêng biệt là (1) quá trình tạo thành dịch vụ và (2) quá trình sử dụng dịch vụ, chúng là đồng thời với nhau. Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ là diễn ra đồng thời với nhau. Đây là sự khác nhau cơ bản với hàng hóa hữu hình khác.  Tính không lưu trữ được: Dịch vụ có quá trình sản xuất và sử dụng diễn ra đồng thời vì vậy nó không thể lưu trữ được như các hàng hóa hữu hình khách.

Nói cách khác ta không thể cất trữ và lưu kho dịch vụ trước khi đem ra lưu thông được.  Tính đồng thời: Tính đồng thời của dịch vụ được thể hiện qua việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời với nhau. Không thể tách rời quá trình sản xuất với quá trình tiêu dùng được. Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ (Parasuraman, 1988).

Chất lượng dịch vụ không được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Có thể nói nó là một khái niệm nhiều khía cạnh. Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra mười khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm (1) sự tin cậy; (2) khả năng đáp ứng; (3) năng lực phục vụ; (4) tiếp cận (access); (5) lịch sự (courtesy); (6) thông tin (communication); (7) tín nhiệm (credibility); (8) độ an toàn (security); (9) hiểu biết khách hàng (understanding customer) và (10) phương tiện hữu hình. Từ 10 khía cạnh này các nghiên cứu tiếp theo được rút về 5 yếu tố chính của mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL (Parasuraman, Berry và Zeithaml, 2004) bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability): Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ban đầu.

(2)Sự đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện sự mong muốn và sẳn lòng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng. (3) Sự đảm bảo (Assurance): Tính chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ. (4) Sự đồng cảm (Empathy): Thể hiện sự quan tâm của nhân viên đối với khách hàng. (5)Phương tiện hữu hình (Tangibles): Trang phục, ngoại hình của nhân viên và trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ.

Như vậy có thể thấy rằng chất lượng dịch vụ là một khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh, nó là một chỉ tiêu tổng hợp của các nhân tố khác nhau. Trong những lĩnh vực dịch vụ khác nhau nó lại được đo lường bởi những yếu tố khác nhau. Chất lượng dịch vụ trong ngành y tế Theo Irfan, Ijaz và Farooq (2012), ngành y tế được coi là một trong những ngành dịch vụ quan trọng của một quốc gia vì nó đóng một vai trò quan trọng để phát triển và duy trì một nguồn vốn con người khỏe mạnh để đạt được các mục tiêu quốc gia. Ở nhiều nước trên thế giới, ngành y tế cũng đã trở thành một ngành công nghiệp dịch vụ ngày càng tăng tính cạnh tranh cao và nhanh chóng.

Khách hàng là người đánh giá chính đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng của các dịch vụ hoặc sản phẩm. Trong chăm sóc sức khỏe cho khách hàng là các bệnh nhân thì nhận thức của họ được coi là các chỉ số chính trong khi đánh giá chất lượng dịch vụ. Sự hài lòng của bệnh nhân tùy thuộc vào nhận thức của họ trong việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mặt khác, nó cũng cho thấy, các bệnh viện cung cấp cùng một loại hình dịch vụ cho bệnh nhân của họ, nhưng không thể cung cấp cùng một chất lượng dịch vụ.

Sự hài lòng khách hàng Sự hài lòng khách hàng là trạng thái cảm xúc đối với sản phẩm dịch vụ đã từng sử dụng (Spreng và cộng sự, 1996). Bachelet (1995) định nghĩa hài lòng của khách hàng là một phản ứng mang tính cảm xúc của khách hàng đáp lại với kinh nghiệm của họ với một sản phẩm hay dịch vụ. Sự hài lòng của khách hàng là mức độ của trạng thái cảm giác của một người bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm/ dịch vụ với những kỳ vọng của anh ta (Kotler, 1996). Nhìn chung các nhà nghiên cứu xem xét sự hài lòng là cảm giác thoải mái khi khách hàng được đáp ứng như kỳ vọng của họ về sản phẩm, dịch vụ.

Sự hài lòng chung về dịch vụ được xem xét như một biến riêng trong mối quan hệ với các thành phần chất lượng dịch vụ (ví dụ: Atilgan (2003); Chow & Luk (2005); Mostafa (2005); Ahuja (2011); Chakraborty & Majumdar (2011); Ahmad & Samreen (2011); Zarei (2012) v. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn của khách hàng Các nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ và sự thỏa mãn khách hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, chất lượng dịch vụ là nguyên nhân và sự hài lòng là kết quả 15 (Spreng (1996); Atilgan (2003); Chow & Luk (2005); Amad & Samreen (2011) v.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại Bệnh viện Đa khoa Trưng Vương TP.HCM" của tác giả Hồ Xuân An, dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Quốc Trung, trình bày những giải pháp nhằm cải thiện chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh nội trú tại bệnh viện. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra những vấn đề hiện tại mà còn đề xuất các biện pháp cụ thể để nâng cao sự hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả điều trị, từ đó tạo ra môi trường chăm sóc sức khỏe tốt hơn cho cộng đồng. Bài viết mang lại cái nhìn sâu sắc cho những người quan tâm đến quản trị y tế và cải tiến dịch vụ y tế.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến dịch vụ y tế và quản lý chất lượng, bạn có thể tham khảo những tài liệu sau: Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023 với nội dung khảo sát nhu cầu tư vấn thuốc cho bệnh nhân, hay Tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2021 để hiểu rõ hơn về quy trình chăm sóc bệnh nhân. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức về quản lý dịch vụ y tế và các phương pháp cải tiến trong lĩnh vực này.