Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Chất lượng dạy học Chất lượng “Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của một sự vật, phân biệt nó với sự vật khác” [33.
“Chất lượng là phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự phân biệt nó với sự vật khác ”[33. Theo Crosby: Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu; Peter Newby quan niệm: Chất lượng là sự đạt được các mục tiêu và chất lượng giáo dục có được chính từ trong quá trình giáo dục. Theo tác giả Lê Đức Phúc: Chất lượng là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một người, một sự vật, sự việc. Đó là tổng thể những thuộc tính cơ bản khẳng định sự tồn tại của sự vật và phân biệt nó với những sự vật khác.
Từ góc độ quản lý có thể quan niệm: Chất lượng là sự thực hiện được mục tiêu và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Chất lượng là trình độ hiện thực hóa mục tiêu giáo dục, thể hiện sự đổi mới và hiện đại hóa giáo dục theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng như khả năng thích ứng ngày càng cao của người học đối với những biến đổi nhanh chóng của thực tế. Chất lượng giáo dục được xem xét đánh giá một cách toàn diện hay từng mặt đối với cả ngành, từng địa phương hay một trường học cụ thể, đối với người học trong từng giai đoạn, trong một điều kiện nhất định. Chất lượng giáo dục phổ thông là chất lượng của từng mặt: đạo đức, trí dục, mỹ học, thể lực, giáo dục lao động và hướng nghiệp hay nói cách khác đó là chất lượng “Dạy chữ, dạy nghề, dạy người”, thể hiện ở người học.
11 Theo tác giả Nguyễn Gia Cốc: “Chất lượng là mức độ của các mục tiêu được đáp ứng. Chất lượng càng cao nghĩa là gia tăng về hiệu quả. Chất lượng giáo dục là một phạm trù động thay đổi theo thời gian, không gian và theo bối cảnh. Chất lượng giáo dục có thể đặc trưng riêng cho từng đối tượng, quốc gia, địa phương, cộng đồng, nhà trường.
Tuỳ theo từng đối tượng mà cách nhìn chất lượng, hiệu quả khác nhau” [1. “Chất lượng giáo dục phổ thông là chất lượng sản phẩm cuối cùng của quá trình giáo dục phổ thông, đó là chất lượng học vấn của cả một lớp người mà bộ phận lớn là vào đời ngay sau khi ra trường, sự kế tiếp của bộ phận này sau mỗi năm học tạo ra sự chuyển hoá từ lượng sang chất của trình độ dân trí, bộ phận còn lại nhỏ hơn được tiếp nhận vào quá trình đào tạo chuyên nghiệp, sự kế tiếp của bộ phận này tạo ra sự chuyển hoá từ lượng sang chất của đội ngũ nhân lực có hàm lượng trí tuệ cao với tất cả dấu ấn nhân cách của họ, của quá trình giáo dục phổ thông”[1. Chất lượng giáo dục được nhìn dưới góc độ nguồn lực và các loại đầu vào khác (số liệu nguồn lực vật chất, số lượng và trình độ giáo viên, tình hình trang thiết bị). Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ nội dung, biểu hiện qua các thuộc tính (khối lượng kiến thức, trình độ học vấn, kỹ năng, những thông tin cần có trong giáo dục).
Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ đầu ra hoặc kết quả cuối cùng (dựa vào các tiêu chí thành tích về học tập, tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp, thu nhập và tình trạng việc làm). Chất lượng giáo dục nhìn từ góc độ là sự gia tăng thêm (ảnh hưởng của nhà trường, hệ thống giáo dục đối với học sinh). Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục. Chất lượng giáo dục gắn liền với sự hoàn thiện của tri thức - kỹ năng - thái độ của sản phẩm giáo dục đào tạo và sự đáp ứng yêu cầu đa dạng của nền kinh tế xã hội của nó trước mắt cũng như trong quá trình phát triển.
Chất lượng giáo dục gắn 12 với hiệu quả trong và hiệu quả ngoài của giáo dục và đào tạo. Chất lượng giáo dục có tính không gian, thời gian và phù hợp với sự phát triển. Dạy học Theo Phạm Minh Hạc:“Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt và lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm xã hội đã tích luỹ được, nhằm biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân”[10. Theo Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt: “Quá trình dạy học là một quá trình sư phạm bộ phận, một phương tiện để trau dồi học vấn, phát triển giáo dục và giáo dục phẩm chất, nhân cách thông qua sự tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm truyền thụ và lĩnh hội một cách có hệ thống những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo, nhận thức và thực hành” [22.
Theo Nguyễn Ngọc Quang: Dạy học được nghiên cứu theo quan điểm là một quá trình. Dạy học bao gồm hai quá trình đó là quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò. Hai quá trình này có mối quan hệ biện chứng, tồn tại vì nhau, sinh ra vì nhau và thúc đẩy nhau phát triển. Chất lượng dạy học Khái niệm chất lượng dạy học liên quan mật thiết với khái niệm hiệu quả dạy học.
Nói đến hiệu quả dạy học tức là nói đến mục tiêu đã đạt được ở mức độ nào, sự đáp ứng kịp thời yêu cầu của nhà trường, chi phí tiền của, sức lực và thời gian cần thiết ít nhất nhưng lại mang lại kết quả cao nhất. Chất lượng dạy học được nhìn từ góc độ là giá trị tăng thêm, cách nhìn này muốn nói lên tác động ảnh hưởng của nhà trường hay một hệ thống giáo dục với người học. Chất lượng dạy học được đánh giá bởi sự phát triển của các yếu tố cấu thành nên quá trình dạy học, sao cho các yếu tố đó càng tiến sát mục tiêu đã định bao nhiêu thì kết quả của quá trình ấy càng cao bấy nhiêu. Để thực hiện việc đánh giá, người ta chuyển mục tiêu dạy học sang hệ thống tiêu chí.
Thông thường dựa trên 3 tiêu chí cơ bản cơ bản: kiến thức - kỹ năng - thái độ. 13 Chất lượng dạy học ở trường phổ thông được đánh giá chủ yếu về hai mặt học lực và hạnh kiểm của người học. Các tiêu chí về học lực là kiến thức, kỹ năng vận dụng và thái độ. Về bản chất, hạnh kiểm phản ánh trình độ phát triển của ý thức trong mối quan hệ với những người khác, nhà trường, gia đình, xã hội và bản thân.
Có 4 tiêu chí: Sự hiểu biết về các chuẩn mực hiện hành, năng lực nhận dạng hành vi, các tác động chi phối hành động, sự thể hiện thái độ tình cảm. Đánh giá chất lượng dạy học là việc rất khó khăn và phức tạp, cần có quan điểm đúng và phương pháp đánh giá khoa học. Khi đánh giá chất lượng dạy học phải cần căn cứ vào mục tiêu dạy học của từng cấp học, bậc học, đối chiếu sản phẩm đào tạo đối với mục tiêu của cấp học, bậc học. Chất lượng dạy học là phạm trù động, thay đổi theo thời gian và theo bối cảnh: chất lượng được nhìn dưới góc độ của sự thành đạt, dưới góc độ nguồn lực, dưới góc độ là một quá trình, từ góc độ nội dung, từ gốc độ đầu ra.
Chất lượng dạy học được nhìn dưới góc độ là giá trị tăng thêm, cách nhìn này muốn nói đến tác động ảnh hưởng của nhà trường trong hệ thống giáo dục đối với mọi người, nghĩa là chất lượng dạy học càng cao thì càng làm phong phú kiến thức, thái độ giá trị và hành vi của người học. Quản lý chất lượng dạy học Quản lý chất lượng dạy học cũng là quản lý các hoạt động toàn diện trong trường nhằm thực hiện các nhiệm vụ sau: Trang bị cho HS những tri thức khoa học phổ thông, cơ bản và hiện đại. Rèn luyện cho HS hệ thống những kỷ năng, kỹ xảo tương ứng. Phát triển những kỹ năng tâm lý, đặc biệt là năng lực tư duy và năng lực hoạt động trí tuệ.
Hình thành các phẩm chất tư cách đạo đức XHCN cho HS. Phương hướng chung để nâng cao chất lượng dạy học là phải cải tiến các giải pháp sư phạm và các giải pháp quản lý. 14 Trong quản lý chất lượng dạy học cần chú trọng đến các yếu tố cơ bản: Quán triệt mục tiêu, kế hoạch và nội dung chương trình dạy học, xây dựng các điều kiện cần thiết cho hoạt động dạy học, đội ngũ GV, cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô đào tạo, tài chính, môi trường sư phạm, môi trường xã hội và mối quan hệ trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm đảm bảo chất lượng dạy học theo mục tiêu đề ra, nó là đường lối chiến lược, đồng thời cũng là giải pháp chiến thuật trong từng giai đoạn cụ thể. Các giải pháp quản lý nhằm đảm bảo chất lượng dạy học phải được xác định từ mục tiêu giáo dục trung học tức là phát triển nhân cách HS cao hơn theo hướng phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam XHCN.
Đặc biệt trong các giải pháp quản lý đảm bảo chất lượng dạy học phải chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy học. Dạy cho HS cách tự học chính là một chức năng, nhiệm vụ cần được nhấn mạnh, đây là một nhiệm vụ năng nề của người giáo viên trong thời kỳ CNH - HĐH đất nước. Vì vậy người GV phải hết sức chú trọng việc dạy cho HS cách tự học, tự suy luận bằng trí tuệ, bằng trí thông minh của mình, phải tự học, tự mình chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, bằng nổ lực chính bản thân mình, bằng tư duy độc lập sáng tạo. Làm cho mỗi HS hình thành một năng lực hết sức quý báu, đó là một năng lực tự học, tự đào tạo.
Năng lực tự học, tự đào tạo sẽ được nhân lên khi biết kết hợp với việc sử dụng phương tiện hiện đại. Đó chính là quan điểm đổi mới giáo dục. Để từng bước đảm bảo quản lý chất lượng dạy học trong các nhà trường ngoài việc phải đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ phương pháp thầy đọc trò ghi, HS tiếp thu kiến thức một cách thụ động, sang phương pháp dạy học tích cực pháp huy tư duy sáng tạo, tính năng động, tính tự học, tự tìm hiểu của HS với vai trò GV là người hướng dẫn, nêu vấn đề.