Chương 1 : Một số vấn đề cơ bản về chất lƣợng cán bộ ngành điện Chương 2: Thực trạng chất lƣợng cán bộ của Công ty LĐCT miền Bắc. Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lƣợng cán bộ của Công ty LĐCT miền Bắc. 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ NGÀNH ĐIỆN 1. Khái niệm và đặc điểm cán bộ ngành điện 1.1 Khái niệm cán bộ ngành điện Cán bộ ngành điện là công dân Việt Nam, đƣợc bổ nhiệm giữ chức danh theo nhiệm kỳ trong các cơ quan trực thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam, trong biên chế và đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Qua khái niệm trên, cán bộ ngành điện đƣợc hiểu là ngƣời làm công tác quản lý sản xuất kinh doanh hoặc quản lý các lĩnh vực chuyên môn khác đƣợc cấp có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm bằng văn bản và đƣợc hƣởng lƣơng chức vụ hoặc phụ cấp chức vụ. Đặc điểm cán bộ ngành điện Từ định nghĩa trên, có thể thấy đặc điểm của một Cán bộ sẽ bao gồm: Ngành điện là ngành công nghiệp hoạt động mang tính hệ thống với trình độ công nghệ cao và hiện đại, là ngành công nghiệp hạ tầng quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Chính vì vậy, để thực hiện trọng trách khó khăn của Đảng và Nhà nƣớc giao phó đòi hỏi cán bộ ngành điện phải có những đặc thù riêng biệt hơn so với các ngành khác cụ thể nhƣ sau: - Có phẩm chất và đạo đức tốt. Luôn là gƣơng trong mọi công tác, chí công vô tƣ, liêm chính và hết mình vì tập thể.
- Có trình độ cao chuyên môn về kỹ thuật ngành điện. Đƣợc qua đào tạo về chuyên ngành điện, có kỹ năng học hỏi và nắm bắt sự thay đổi về khoa học và công nghệ. - Có trình độ lý luận chính trị từ Trung Cấp trở lên, là Đảng viên Đảng Công sản Việt Nam. - Có khả năng nắm bắt, cập nhật và thi hành các văn bản pháp luật và các quy định của Tập đoàn.
7 - Có sức khỏe tốt để có thể điều hành công việc tại các khu vực có đặc điểm địa lý khác nhau nằm rải rác trên các tỉnh thành trong cả nƣớc. - Có khả năng lập kế hoạch để dự báo và có giải pháp xử lý nhanh và kịp thời các sự cố do thiên tai, hỏa hoạn gây ra. Đồng thời lập kế hoạch phát triển cho ngành theo từng giai đoạn để có thể đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao của đất nƣớc. Chất lƣợng cán bộ ngành điện 1.
Khái niệm về chất lượng của cán bộ Theo cách hiểu chung nhất hiện nay: “Chất lượng được hiểu là tổng hợp những giá trị, những phẩm chất, những đặc tính tạo nên bản chất của một người. Những phẩm chất, đặc tính giá trị đó đáp ứng những mức độ nào yêu cầu đã được xác định về con người đó trong một thời gian và không gian nhất định. Những vấn đề này có tính ổn định tương đối và có thể thay đổi do tác động của những điều kiện khách quan và chủ quan”. Đối với chất lƣợng con ngƣời, cho đến nay chƣa có một định nghĩa chính thức, song có rất nhiều nghiên cứu ngƣời ta sử dụng một số khái niệm nhƣ: Chất lƣợng nguồn nhân lực, chất lƣợng con ngƣời….
Chất lƣợng cán bộ cũng vậy, cho đến nay quan niệm thế nào là chất lƣợng cán bộ là vấn đề còn chƣa có sự thống nhất hoàn toàn. Trên thực tế, có các quan điểm khác nhau đánh giá chất lƣợng cán bộ cụ thể nhƣ sau: - Chất lƣợng cán bộ đƣợc đánh giá bằng yếu tố “đầu vào” nghĩa là đƣợc đào tạo chuyên môn, bằng cấp, kỹ năng, kinh nghiệm trong công việc. - Chất lƣợng cán bộ đƣợc đánh giá bằng yếu tố “đầu ra” nghĩa là thông qua đánh giá chất lƣợng, hiệu quả, tính năng động, mức độ sáng tạo, kỹ năng ứng dụng kiến thức, hiểu biết khoa học công nghệ vào trong công việc…. - Chất lƣợng cán bộ đƣợc đánh giá bằng “giá trị gia tăng” tức là đƣợc xác định bằng giá trị của “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào” thông qua các chỉ tiêu tiền lƣơng, thu nhập, điện kiện sống.
Nhìn chung cần kết hợp các quan điểm trên trong việc đánh giá chất lƣợng cán bộ bởi sự kết hợp các quan điểm trên mới thể hiện đƣợc các điều kiện cần và đủ 8 để thấy chất lƣợng hoạt động của đội ngũ cán bộ đã đáp ứng yêu cầu của tổ chức chƣa và họ đƣợc đánh giá trả công nhƣ thế nào, có xứng đáng với sự đầu tƣ của bản thân và gia đình hay chƣa. Dựa trên Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017 của Ban chấp hành Trung Ƣơng Đảng về định hƣớng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và dựa trên quy chế đánh giá cán bộ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, chất lƣợng cán bộ ngành điện đƣợc hiểu là sự kết hợp các yếu tố nhƣ sau: - Thể lực bao gồm các chỉ tiêu nhƣ: Tuổi thọ, chiều cao cân nặng và mức độ dẻo dai. - Trình độ và kỹ năng chuyên môn bao gồm các chỉ tiêu: Tỷ lệ cán bộ theo các cấp trình độ đào tạo, trình độ tin học, ngoại ngữ và trình độ lý luận chính trị… + Kỹ năng gồm kỹ năng mềm bao gồm các chỉ tiêu: Lập kế hoạch và tổ chức công việc, làm chủ bản thân, giao tiếp ứng xử và thuyết trình…. + Kỹ năng cứng gồm các chỉ tiêu: Kỹ năng thiết kế bản vẽ kỹ thuật, kỹ năng làm báo cáo tài chính, kỹ năng soạn thảo văn bản, quy trình… - Tâm lực bao gồm các chỉ tiêu: Ý thức kỷ luật, tác phong, đạo đức, lòng ham học hỏi, cầu tiến, động cơ thái độ làm việc và trách nhiệm với công việc.
- Hiệu quả của công việc bao gồm các chỉ tiêu: Hiệu suất sử dụng thời gian, Mức độ hoàn thành các công việc và tiến độ thực hiện công việc. Qua trên, tác giả có thể biểu thị chất lƣợng cán bộ ngành điện theo khung đánh giá dƣới đây. Tâm lực Thể lực Chất lƣợng cán bộ Trình độ và kỹ Hiệu quả công năng chyên môn việc Hình 1. Khung tiêu chí chất lƣợng cán bộ 9 1.
Tiêu chí đánh giá chất lượng cán bộ ngành điện 1. Tiêu chí đánh giá về thể lực. Thể lực là chỉ sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, sức khỏe cơ bắp, sức mạnh của niềm tin và ý trí. Thể lực là khả năng vận động của trí lực giúp cho con ngƣời có thể tham gia các hoạt động trong công việc, hoạt động sinh hoạt… Ngƣời cán bộ cần có sức vóc thể chất tốt để duy trì và phát triển trí tuệ, để chuyển tải tri thức vào hoạt động quản lý, biến tri thức thành sức mạnh.
Trí tuệ của cán bộ chỉ có thể đƣợc phát huy hơn nữa khi thể lực của con ngƣời phát triển tốt. Thể lực của ngƣời cán bộ đƣợc hình thành và phát triển bằng con đƣờng di truyền, nuôi dƣỡng, tập luyện thể dục thể thao, lao động và các hoạt động nghiên cứu… 1. Tiêu chí đánh giá về trình độ và kỹ năng chuyên môn a) Trình độ: Trình độ là điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà có. Khối lƣợng kiến thức của nhân loại về các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học công nghệ và kỹ thuật, KH - XH và nhân văn, cũng nhƣ tất cả các hiểu biết đƣợc tích lũy trong đời sống KT- XH vô cùng lớn nên phải lựa chọn những hiểu biết chung mang tính cơ bản để đƣa vào chƣơng trình phổ thông, một số kiến thức chuyên môn ngành đƣa vào đào tạo nghề và đào tạo đại học, phần còn lại thì tự học trog cuộc sống và theo sở thích cá nhân.
Trình độ đƣợc phân ra thành nhiều lĩnh vực đào tạo cụ thể nhƣ: + Trình độ học vấn gồm: Trình độ Đại học, Cao đẳng và Trung cấp. + Trình độ lý luận chính trị gồm: Cao cấp lý luận chính trị, trung cấp chính trị, sơ cấp chính trị. + Trình độ ngoại ngữ gồm: Đại học, cao đẳng Tiếng anh (trình độ A, B, C…), tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức…. + Trình độ tin học gồm: Đại học, Cao đẳng, trung cấp, tin học văn phòng.
b) Kỹ năng: Là khả năng đạt đƣợc trên thực tế để thực hiện các công việc nhất định, điều kiện nhất định và dựa trên chỉ tiêu nhất định. Ngƣời ta phân chia kỹ năng thành hai loại đó là: Kỹ năng mềm và kỹ năng cứng trong nghề nghiệp. 10 - Kỹ năng cứng: Là kỹ năng chuyên môn để giúp con ngƣời thực hiện những công việc cụ thể. Kỹ năng này thƣờng đƣợc gắn liền với các tiêu chuẩn kỹ thuật và tuân theo các trình tự, quy định của từng tổ chức, đơn vị và có thể đo đƣợc.
Kỹ năng này có thể thấy đƣợc nhƣ khả năng lập bản vẽ thi công, lập báo cáo tài chính và xây dựng các văn bản… - Kỹ năng mềm: Là kỹ năng giúp con ngƣời tự quản lý và tƣơng tác với xung quanh để đem lại hiệu quả công việc và chất lƣợng cuộc sống. Kỹ năng này đƣợc thể hiện thông qua khả năng ứng xử, giao tiếp, lắng nghe, thuyết trình. Kỹ năng này thƣờng khó quy chuẩn, nó phụ thuộc rất nhiều vào nhiều đối tƣợng tƣơng tác nhƣ cấp trên, đồng nghiệp, khách hàng… Hai loại kỹ năng trên thì kỹ năng mềm đƣợc sử dụng linh hoạt hơn trong công việc, trong đời sống hàng ngày và kéo dài suốt cuộc đời còn kỹ năng cứng thì thƣờng đƣợc sử dụng trong công việc, nơi làm việc. Để có đƣợc các kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm trong cuộc sống, làm việc thì đào tạo phù hợp và hiệu quả trong đơn vị có ý nghĩa rất quan trọng.
Bên cạnh đó đây là sơ sở để có kế hoạch phân chia công việc hợp lý. Nếu giao công việc vƣợt quá khả năng của ngƣời cán bộ thì đây cũng là điều kiện giúp họ nâng cao năng lực và kỹ năng mềm trong việc trao đổi học hỏi… c) Về sự sáng tạo, năng động trong công việc Sáng tạo là hoạt động của con ngƣời để tạo ra sản phẩm mới. Sản phẩm này có tính chất mới, có giá trị và tiến bộ hơn so với sản phẩm cũ. Sự năng động trong công việc thể hiện ở việc chủ động xử lý công việc, mọi tình huống, phải biết đi trƣớc đón đầu, xây dựng kế hoạch dự phòng trƣớc những biến cố do thiên tai, sự cố hỏa họa gây ra.