đặt vấn đề chức năng nào quan trọng nhất hoặc chức năng nào quan trọng hơn chức năng nào. Song cũng cần thấy rằng chỉ khi chức năng thừa nhận được thực hiện thì các chức năng khác mới phát huy tác dụng. Một trong những bí quyết quan trọng nhất để thành công trong kinh doanh là sự hiểu biết cặn kẽ tính chất của thị trường. Nhận biết được đặc điểm và sự hoạt động của từng loại thị trường, các yếu tố tham gia vào hoạt động của thị trường, từ đó thấy rõ đặc điểm hình thành và vận động của giá cả thị trường.
Đặc điểm thị trường dịch vụ viễn thông 1. Khách hàng - Nhu cầu người tiêu dùng: Vai trò người tiêu dùng là yếu tố quyết định sự sống còn của bất kỳ một dịch vụ nào. Đối với dịch vụ viễn thông, ngoài vấn đề đáp ứng các nhu cầu về truyền dữ 10 liệu, trao đổi thông tin còn có rất nhiều yếu tố khác tác động đến người tiêu dùng, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng trưởng của dịch vụ. Sự giảm giá các dịch vụ viễn thông là yếu tố thúc đẩy người tiêu dùng gia tăng các dịch vụ, tạo điều kiện cho nhà cung cấp dịch vụ viễn thông tăng doanh thu, đồng thời tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường.
Ở nước ta, chính sách giá cước của các nhà cung cấp dịch vụ khá đa dạng, chia thành nhiều gói cước khác nhau, tuỳ thuộc vào dung lượng sử dụng. Tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng chọn được gói cước phù hợp nhu cầu, khuyến khích người tiêu dùng sử dụng dịch vụ. - Tâm lý người tiêu dùng: + Yếu tố giá cước, dịch vụ: giữa khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ luôn tồn tại mâu thuẫn về giá cước các dịch vụ viễn thông. Khi xác lập giá cho mỗi dịch vụ, có thể doanh nghiệp cảm thấy hợp lý nhưng khách hàng lại khó có thể chấp nhận về mặt tâm lý.
+ Chính sách phân phối của nhà cung cấp cũng ảnh hưởng đến tâm lý khách hàng: mạng lưới phân phối, quy trình phân phối, mức độ cá nhân hoá dịch vụ cho khách hàng. + Các dịch vụ mới: Cần phải nắm được tâm lý khách hàng về thói quen trước khi đưa ra các dịch vụ mới. + Các hoạt động xúc tiến hỗn hợp. Tình hình cạnh tranh Theo thống kê từ VNNIC nếu trong năm 2009, số người sử dụng Inetrnet ở Việt Nam chiếm 27% dân số thì trong năm 2010, con số đó tăng lên là 31%.
Tiềm năng của thị trường Internet Việt Nam còn nhiều hứa hẹn, tuy nhiên cũng tạo ra những cạnh tranh khốc liệt. Cũng theo VNNIC, trong năm 2010 chiếm thị phần cao nhất là VNPT với 74,22%, tiếp đó là FPT với 11,19%, VIETEL 9,4%, còn một lượng thị phần rất nhỏ trên thị trường được chia cho các ISP như SPT, NETNAM, EVN. 11 VNPT vẫn là doanh nghiệp chủ đạo về Internet tại Việt Nam hiện nay. Với lợi thế mạng lưới rộng khắp, chất lượng và năng lực hạ tầng kỹ thuật mạng an toàn nhất.
Sự hiện diện khắp các tỉnh, thành phố giúp VNPT đạt được lượng khách hàng lớn nhất. Vai trò của hoạt động marketing đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông. - Marketing làm cho sản phẩm thích ứng với thị trường: Thông qua hoạt động Marketing ta có thể nắm bắt được nhu cầu của thị trường thể hiện thông qua yêu cầu của sản phẩm (tên gọi của dịch vụ viễn thông, thông tin về kỹ thuật…), từ đó phải thiết kế đáp ứng được nhu cầu của thị trường để thực hiện các hoạt động mua bán, phát triển thị trường. - Marketing giúp lựa chọn, thực hiện phân phối: Đưa dịch vụ viễn thông đến đúng khách hàng, vào đúng thời điểm với chi phí hợp lý nhất.
Marketing thực hiện nhiệm vụ: xây dựng cơ sở hạ tầng mạng viễn thông, tổ chức công tác bán hàng, làm công tác sau bán hàng… - Marketing thực hiện chức năng xúc tiến bán sản phẩm: thông qua các hoạt động quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, tài trợ,… các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông có thể đánh bóng thương hiệu, đưa thông tin tới khách hàng và tạo niềm tin… Do vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bán hàng. Các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường dịch vụ Internet 1. Các yếu tố kinh tế Bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng và sự ổn định của nền kinh tế, sức mua, sự ổn định của giá cả, tiền tệ, lạm phát, tỷ giá hối đoái. tất cả các yếu tố này đều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Những biến động của các yếu tố kinh tế có thể tạo ra cơ hội và cả những thách thức với doanh nghiệp. Để đảm bảo thành công của hoạt động doanh nghiệp trước biến động về kinh tế, các doanh nghiệp phải theo dõi, phân tích, dự báo biến động của từng yếu tố để đưa ra các giải pháp, các chính sách tương ứng trong từng thời điểm cụ thể nhằm tận dụng, khai thác những cơ hội, né tránh, giảm thiểu nguy cơ và đe dọa. Khi phân 12 tích, dự báo sự biến động của các yếu tố kinh tế, để đưa ra kết luận đúng, các doanh nghiệp cần dựa vào một số căn cứ quan trọng: các số liệu tổng hợp của kì trước, các diễn biến thực tế của kì nghiên cứu, các dự báo của nhà kinh tế lớn. Các yếu tố văn hóa – xã hội Mỗi doanh nghiệp kinh doanh viễn thông đều hoạt động trong môi trường văn hóa xã hội nhất định.
Doanh nghiệp và môi trường văn hóa xã hội đều có liên hệ chặt chẽ, có sự tác động qua lại lẫn nhau. Xã hội cung cấp những nguồn lực mà doanh nghiệp viễn thông cần, tiêu thụ những sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra. Các giá trị chung của xã hội, tập tục truyền thống, lối sống của doanh nghiệp, các hệ tư tưởng tôn giáo và cơ cấu dân số, thu nhập của dân cư đều có tác động đến nhiều mặt hoạt động của tổ chức kinh doanh. Doanh nghiệp cần phải phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội nhằm nhận biết các cơ hội và nguy cơ có thể xảy ra.
Mỗi một sự thay đổi của các lực lượng văn hóa có thể tạo ra một ngành kinh doanh mới nhưng cũng có thể xóa đi một ngành kinh doanh. Để có thể thành đạt trong kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ hướng nỗ lực của mình vào các thị trường mục tiêu mà còn phải biết khai thác tất cả các yếu tố của môi trường kinh doanh, trong đó có yếu tố môi trường văn hoá. Về sắc thái văn hoá, nó vừa chịu ảnh hưởng của truyền thống lại vừa chịu ảnh hưởng của môi trường, lãnh thổ và khu vực. Sắc thái văn hoá in đậm lên dấu ấn ứng xử của người tiêu dùng trong đó có vấn đề quan niệm và thái độ đối với hàng hoá, dịch vụ mà họ cần mua.
Ngày nay, hầu hết mỗi người từ các nhà doanh nghiệp, người nông dân, sinh viên, công chức cho đến học sinh đều có nhu cầu liên lạc, và có những nhu cầu dịch vụ khác… Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ dân trí của Việt Nam ngày một được nâng cao hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có nguồn lao động có trình độ quản lý, kỹ thuật, có đội ngũ nhân viên lành nghề có trình độ cao. Với thị trường 86 triệu dân, tỷ lệ dân số trẻ đang có nhu cầu dịch vụ liên lạc, tạo ra 13 nhu cầu lớn và một thị trường rộng lớn sẽ là cơ hội cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động và chiếm lĩnh thị trường giàu tiềm năng này. Khách hàng ở từng khu vực, từng quốc gia luôn chịu ảnh hưởng rất lớn từ nền văn hóa nơi họ sinh sống và làm việc.
Hiện nay ở nước ta quan niệm việc sử dụng Internet như là nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người dân, là phương tiện trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa cho mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội. Khi nhu cầu sử dụng tăng cao, sản lượng thuê bao tăng nhanh sẽ thúc đẩy ngành viễn thông phát triển. Để tiếp cận một thị trường nào đó, người làm Marketing phải thấu hiểu được nền văn hóa riêng biệt của nơi đó, tránh những hành vi, những thông điệp thậm chí những sản phẩm, dịch vụ không tương thích với các giá trị văn hóa nơi đó. Ngoài ra do tính đặc thù của các nền văn hóa khác biệt đôi khi còn giúp cho doanh nghiệp xâm nhập thị trường tốt hơn.
Các yếu tố thuộc môi trường pháp lý Các tác động chính trị pháp luật đối với doanh nghiệp viễn thông: Môi trường chính trị pháp luật bao gồm các luật lệ các quy tắc, và những hoạt động của cơ quan nhà nước có ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Thể chế chính trị giữ định hướng, chi phối các hoạt động trong xã hội, trong đó có các hoạt động sản xuất kinh doanh. Môi trường chính trị pháp luật thuộc nhóm các yếu tố vĩ mô, mặc dù nó có ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng yếu tố này giữ vai trò rất quan trọng trong việc xác định định hướng kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông. Sự tác động của hệ thống luật pháp đến kinh doanh viễn thông: Luật pháp là một khung các nguyên tắc và luật lệ do xã hội quy định để chế tài hành vi của các thành viên trong xã hội.
Chẳng hạn như hệ thống pháp luật, luật về hợp đồng, nhãn hiệu thương mại, bằng phát minh, sáng chế, bản quyền tác giả … mua bán hàng hóa, quyền sở hữu tài sản. Như vậy với tư cách là một công dân tập thể, các doanh nghiệp viễn thông phải hoạt động dưới một thể chế pháp luật của một quốc gia. Luật doanh nghiệp: chế định các hoạt động kinh doanh, quản lý các hoạt động kinh 14 doanh của các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân; luật công ty quản lý các doanh nghiệp. Việt Nam được đánh giá là nước có tình hình chính trị ổn định nhất các nước láng giềng trong khối ASEAN.
Đây là điều kiện thuận lợi cho Việt Nam trong việc quan hệ với các nước trên thế giới. Môi trường cạnh tranh Cạnh tranh kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng, thương nhân…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình.