CHƯƠNG 1: NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MARKETING - MIX 1. NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ MARKETING VÀ MARKETING – MIX 1. Khái niệm và vai trò của Marketing 1.1 Khái niệm Marketing Theo khái niệm marketing hiện đại vào đầu những năm của thế kỉ XX được Philip Kotler – chuyên gia hàng đầu về marketing, phát biểu như sau: “Marketing là hoạt động của con người hướng tới thỏa mãn nhu cầu và ước muốn của khách hàng thông qua quá trình trao đổi”. Theo định nghĩa mới về Marketing của Hiệp hội Marketing Mỹ đã đưa ra là: “Marketing là tập hợp các hoạt động, cấu trúc cơ chế và quy trình nhằm tạo ra, truyền thông và phân phối những thứ có giá trị cho người tiêu dùng, khách hàng, đối tác và xã hội nói chung”.
Tóm lại: Marketing là tổng thể các hoạt động của doanh nghiệp hướng tới thoả mãn, gợi mở những nhu cầucủa người tiêu dùng trên thị trường để đạt được mục tiêu lợi nhuận. Bản chất của hoạt động marketing là một hệ thống các hoạt động kinh tế - là tổng thể các giải pháp của một công ty trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu của mình; là sự tác động tương hỗ hai mặt của một quá trình thống nhất: Một mặt nghiên cứu thận trọng, toàn diện nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng, định hướng sản xuất nhằm đáp ứng những nhu cầu đó. Mặt khác, tác động tích cực đến thị trường, đến nhu cầu hiện tại và tiềm tàng của người tiêu dùng.2 Vai trò của Marketing đối với doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, mỗi doanh nghiệp là một chủ thể kinh doanh, một cơ thể sống của đời sống kinh tế, với họ marketing không chỉ là Phùng Thị Hòa CQ55/32.04 6 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính một chức năng trong hoạt động kinh doanh, nó là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc phát hiện ra, đáp ứng và làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Họ hiểu rằng lợi thế cạnh tranh từ marketing chỉ có thể có được từ năng lực marketing của cả một doanh nghiệp, chứ không thể là năng lực của một vài cá nhân.
Vì vậy có thể thấy được vai trò của marketing hết sức quan trọng. Marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường. đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, hiểu rõ thị trường, nhu cầu và mông muốn của khách hàng, làm chỗ dựa vững chắc cho mọi quyết định kinh doanh. Marketing liên kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng: Do có sự khác biệt về không gian và thời gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng nên các nhà sản xuất, kinh doanh không thể nắm bắt được những thông tin về sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng nếu như không có sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống thông tin Marketing.
Nhờ các hoạt động marketing mà các quyết định kinh doanh có cơ sở khoa học hơn, đồng thời giúp các công ty có điều kiện thu thập và xử lý thông tin một cách hiệu quả nhất nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Khuyến khích sự phát triển và đưa ra những cái mới: với những thay đổi mau chóng trong thị hiếu, công nghệ, cạnh tranh, mỗi công ty thương mại chẳng thể chỉ kinh doanh mặt hàng hiện có của mình. Khách hàng luôn mong muốn và chờ đợi những mặt hàng mới và hoàn thiện hơn. Do đó, Marketing chính là công cụ hướng theo thị trường, liên kết khách hàng đảm bảo sự phát triển, để công ty thương mại triển khai phát triển và tung ra thị trường mục tiêu các mặt hàng mới.
Phùng Thị Hòa CQ55/32.04 7 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Bằng việc áp dụng hợp lý ngân sách, nguồn lực cho Marketing, doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh cũng như nâng cao nhận biết về sản phẩm, dịch vụ. Từ đó Marketing có thể đem lại những lợi ích, cơ hội về mặt tài chính cho doanh nghiệp. Ngoài ra, để thúc đẩy lượng tiêu thụ sản phẩm thì cần phải có nhiều dạng hoạt động Marketing, điều này đã giúp cho người lao động có việc làm, đời sống xã hội ngày càng cải thiện hơn. Khái niệm và vai trò của Marketing – mix trong chiến lược Marketing của doanh nghiệp 1.
Khái niệm Theo Philip Kotler,“Marketing Mix là tập hợp những công cụ mà công ty sử dụng để theo đuổi những mục tiêu marketing của mình trên thị trường mục tiêu”. (Philip Kotler, Quản trị Marketing (bản tiếng Việt), 1994, Tr 492) Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1953 bởi Neil Borden - là chủ tịch của hiệp hội Marketing Hoa Kỳ đưa ra mô hình marketing hỗn hợp gồm 12 thành phần. Một nhà tiếp thị nổi tiếng, E. Jerome McCarthy, đề nghị phân loại theo 4P: Sản phẩm (Product), giá cả (Price), phân phối (Place) và xúc tiến hỗn hợp (Promotion) vào năm 1960, Philip Kotler sử dụng lại mô hình 4P này.
Mô hình này là mô hình tồn tại lâu nhất vì nó dễ nhớ và bao phủ các thành phần cơ bản của marketing. Hiện nay, mô hình đã được phát triển thành marketing 7Ps bổ sung thêm 3 yếu tố khác là Process (quy trình), People (con người), và Physical Evidence (bằng chứng vật lý) để đáp ứng được những yêu cầu phức tạp và cải tiến của marketing hiện đại. Vai trò của Marketing – mix trong doanh nghiệp Phùng Thị Hòa CQ55/32.04 8 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Marketing Mix thực sự đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là cầu nối giữa người mua và người bán.
giúp cho người bán hiểu được những nhu cầu đích thực của người mua nhằm thỏa mãn một cách tối ưu nhất. Dựa vào đó để hoạch định các chương trình tiếp thị phù hợp. Nhờ có Marketing Mix mà doanh nghiệp có thể nắm được các thông tin, nhanh chóng thay đổi và đưa ra các chiến lược tương ứng, không chỉ để tồn tại và còn có thể phát triển và tạo được vị thế trên thị trường. Marketing Mix tạo ra sự kết nối các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp với thị trường trong tất cả các giai đoạn, đồng thời, tạo ra luồng thông tin hai chiều giữa doanh nghiệp và thị trường.
Marketing Mix giúp tiêu thụ hàng hoá tốt hơn, ổn định và hiệu quả hơn. Trong thời kỳ cạnh tranh khốc liệt thì đây chính là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Phân phối hàng hoá và xúc tiến thương mại giúp doanh nghiệp tạo ra ưu thế và sự khác biệt trong cạnh tranh so với các đối thủ. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH MARKETING – MIX Marketing hỗn hợp thể hiện nghệ thuật triển khai các chương trình, hoạt động của Marketing của doanh nghiệp trong những điều kiện cụ thể.
Vì vậy, mỗi doanh nghiệp ở mỗi bộ phận thị trường, trong từng khoảng thời gian có thể triển khai một loại hỗn hợp riêng, với số lượng và sự phối hợp các yếu tố thành phần khác nhau. Carthy gọi là Marketing hỗn hợp “4P” là loại Marketing đơn giản nhất, gồm 4 thành phần là 4 chính sách cơ bản của Marketing. Chính sách sản phẩm (Product) Phùng Thị Hòa CQ55/32.04 9 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính 1. Khái niệm và vai trò của chính sách sản phẩm ❖ Khái niệm: Chính sách sản phẩm là những nguyên tắc chỉ đạo, quy tắc, phương pháp, thủ tục được thiết lập gắn với việc phát triển và đổi mới sản phẩm nhằm hỗ trợ và thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu đã xác định.
Chính sách sản phẩm bao gồm toàn bộ các giải pháp định hướng cho việc phát triển sản phẩm, làm cho sản phẩm luôn thích ứng với thị trường, đáp ứng cầu thị trường trong thời kỳ chiến lược xác định. Là thành phần cơ bản nhất trong Marketing mix, là một trong những công cụ hữu hiệu quan trọng trong quá trình quản trị marketing. Đó có thể là sản phẩm hữu hình của Công ty đưa ra thị trường, bao gồm sự đa dạng, chất lượng sản phẩm, hình dáng thiết kế, đặc tính, bao bì, nhãn hiệu. Đó là những yếu tố cơ bản nhất dễ thu hút người tiêu dùng nhất trong hành vi mua của người tiêu dùng.
Sản phẩm cũng bao gồm khía cạnh vô hình như các hình thức dịch vụ giao hàng, sửa chữa,… ❖ Các cấp độ cấu thành sản phẩm Đơn vị sản phẩm vốn là một chỉnh thể hoàn chỉnh chứa đựng những yếu tố, đặc tính và các thông tin khác nhau về sản phẩm. Những yếu tố, đặc tính và thông tin đó có thể có những chức năng Marketing khác nhau. Khi tạo ra một mặt hàng người ta thường xếp các yếu tố đặc tính và thông tin đó theo ba cấp độ có những chức năng Marketing khác nhau. Phùng Thị Hòa CQ55/32.04 10 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Hình 1.1: Ba cấp độ cấu thành sản phẩm Các cấp độ sản phẩm Sản phẩm cốt lõi: Đây chính là dịch vụ hay lợi ích cơ bản mà khách hàng thực sự mua.
Sản phẩm hiện thực: Đó là những yếu tố phản ánh sự có mặt trên thực tế của sản phẩm. Những yếu tố đó bao gồm: các chỉ tiêu phản ánh chất lượng, các đặc tính, bố cục bề ngoài, đặc thù, nhãn hiệu và bao gói. Sản phẩm bổ sung: Đó là những yếu tố như: bảo hành, lắp đặt, vận hành, giao hàng, tín dụng, .Chính những yếu tố này đã tạo ra sự đánh giá mức độ hoàn chỉnh khác nhau trong sự nhận thức của người tiêu dùng đối với một mặt hàng hay nhãn hiệu cụ thể. ❖ Phân loại: Chiến lược Marketing của một DN khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của sản phẩm.
Để có chiến lược Marketing đúng cần phân loại sản phẩm. Trong hoạt động Marketing các cách phân loại có ý nghĩa đáng chú ý là: Căn cứ vào độ bền hay tính hữu hình của sản phẩm: Hàng lâu bền: Là những vật phẩm thường được sử dụng nhiều lần. Phùng Thị Hòa CQ55/32.04 11 Luận văn tốt nghiệp Học viện Tài chính Hàng không lâu bền: Là vật phẩm được sử dụng một hay một vài lần. Dịch vụ: Là những đối tượng được bán dưới dạng hoạt động, ích lợi hay sự thỏa mãn.
Căn cứ theo thói quen mua hàng ngày của người tiêu dùng: Sản phẩm thông thường: Thiết yếu, cấp thiết, mua ngẫu hứng Sản phẩm mua có lựa chọn: Đó là những hàng hóa mà việc mua diễn ra lâu hơn, đồng thời khi mua khách hàng thường lựa chọn, so sánh, cân nhắc về công dụng, kiểu dáng, chất lượng, giá cả của chúng. Sản phẩm đặc biệt: Đó là những hàng hóa có những tính chất đặc biệt hay hàng hóa đặc biệt mà khi mua người ta sẵn sàng bỏ thêm sức lực, thời gian để tìm kiếm và lựa chọn chúng.