CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG 1.1 Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Khi nghiên cứu lịch sử ra đời và phát triển của ngân hàng, Các Mác đã viết: "Như vậy là việc buôn bán hàng hoá tiền, trước hết là do các quan hệ quốc tế mà có. Một khi đã có các thứ tiền riêng của các quốc gia khác nhau thì các thương nhân mua hàng của nước ngoài đều buộc phải đổi tiền của nước mình lấy tiền địa phương và ngược lại, hoặc nữa là buộc họ phải đổi những loại tiền khác lấy những nén bạc hoặc vàng làm tiền quốc tế. Do đó mà có nghề đổi tiền và nghề người ta coi là một trong những nền tảng phát sinh một cách tự nhiên của nghề buôn bán tiền hiện thời". Các Mác cho rằng sự mở thông giao lưu kinh tế xuyên lục địa, sự phát triển của kinh tế hàng hoá đã đẩy hàng loạt mâu thuẫn kinh tế lên tới đỉnh điểm, nhất là mâu thuẫn trong lĩnh vực thanh toán (phương thức thực hiện và dự trữ an toàn tiền), trong việc tập trung vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của các chủ doanh nghiệp và những thương nhân.
Đó cũng chính là những mâu thuẫn hợp thành tất yếu để ra đời loại hình ngân hàng đầu tiên: những người thợ vàng, thợ bạc. Việc hệ thống lại quá trình ra đời và hình thành những hoạt động đầu tiên của NH, cho phép ta khẳng định: Khởi tổ là dịch vụ đổi tiền cùng với sự phát triển, đòi hỏi của nền kinh tế và giao lưu hàng hoá, ngân hàng đã dần hình thành và hoàn thiện các nghiệp vụ của mình : đổi tiền, nhận gửi, bảo quản tiền, vàng và các tài sản có giá, thanh toán chi trả hộ, cho vay, huy động vốn, chiết khấu thương phiếu. Xuất phát từ sự ra đời của ngân hàng, từ những chức năng cơ bản của ngân hàng sơ khai người ta định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ - tín dụng. Nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền của khách hàng dưới hình thức khác nhau.
Học viên: Lại Thị Mỹ Hạnh 5 Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007-2009 Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Kinh tế càng phát triển, hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại cũng phát triển theo và các chức năng của nó được mở rộng, khi đó các nhà kinh tế định nghĩa: NHTM là những trung gian tài chính có giấy phép kinh doanh của chính phủ để cho vay tiền và mở các tài khoản tiền gửi kể cả các khoản tiền gửi mà dựa vào đó có thể sử dựng các tờ séc. Rõ ràng, các ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng (các dịch vụ) mà chúng thực hiện trong nền kinh tế. Nếu nhìn từ những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp khi đó họ định nghĩa ngân hàng hiện đại như sau:. “Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [24, tr7].
Tổng quát chức năng cơ bản của ngân hàng đa năng ngày nay là: Chức năng Chức năng ủy thác Tín dụng Chức năng Chức năng lập Bảo hiểm kế hạch đầu tư Chức năng Chức năng Môi giới NGÂN HÀNG HIỆN ĐẠI thanh toán Chức năng Chức năng Tiết kiệm Ngân hàng đầu Chức năng Quản tư và bảo lãnh lý tiền mặt Biểu 1.1 - Chức năng cơ bản của ngân hàng hiện đại [24] Trên bình diện chung nhất, có thể nêu lên danh mục các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của NHTM bao gồm: Huy động tiền gửi của khách hàng, cấp tín dụng cho khách hàng bằng tiền hay dưới dạng chấp nhận hối phiếu, chiết khấu hối phiếu và séc, cam kết mua lại các khoản tín dụng chưa đến hạn, nhận bảo đảm và bảo lãnh cho khách hàng, thực hiện thanh toán bù trừ và thanh toán không dùng tiền mặt, thu nhận, giữ hộ tài sản và các giấy tờ có giá. Học viên: Lại Thị Mỹ Hạnh 6 Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007-2009 Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội 1.2 Các sản phẩm, dịch vụ cơ bản của ngân hàng thương mại 1.1 Nhận tiền gửi (huy động vốn) * Ngân hàng nhận tiền gửi xuất phát từ những yêu cầu khách quan đó là: - Xuất phát từ nhu cầu của các chủ sở hữu: Tùy theo lượng tiền nhàn rỗi, tuỳ theo kế hoạch sử dụng tiền nhàn rỗi đó, các chủ sở hữu tính toán xem mình gửi loại kỳ hạn nào với số tiền bao nhiêu để có lợi nhất. Khi hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển, khi đó người ta lại càng nghĩ đến việc sử dụng các dịch vụ, các tiện ích của ngân hàng. - Xuất phát từ khả năng và nhu cầu của ngân hàng: Bản thân ngân hàng là những tổ chức trung gian tài chính, luôn đi kiếm lời từ việc dùng những đồng tiền "tạm thời nhàn rỗi" của người này đem tài trợ cho người kia với mức lãi suất cao hơn để kiếm lời.
Chính từ nhu cầu tất yếu đó, ngân hàng phải huy động vốn hay nhận tiền gửi của khách hàng. - Chính sách của Chính phủ: Ở mỗi quốc gia, nền kinh tế phát triển theo những chu kỳ nhất định, ở thời điểm cực tiểu là khoảng thời gian bị khủng hoảng kinh tế, lạm phát cao, GDP thấp. Ở những thời kỳ này, Chính phủ thường phải can thiệp thông qua các công cụ lãi suất ngân hàng bằng cách quy định mức huy động lãi suất rất cao thậm chí còn cao hơn nhiều lần lãi suất cho vay nhằm thu bớt tiền trong lưu thông, ổn định giá cả, tăng sức mua của đồng tiền, chống lạm phát để tăng trưởng kinh tế. * Khả năng gửi tiền: - Những cá nhân khi có thu nhập, một phần chi tiêu, còn lại một phần tiết kiệm để mua ô tô, mua nhà hoặc mua các tài sản khác.
Họ gửi số tiền "tiết kiệm" đó vào ngân hàng theo kỳ hạn nhất định. Hình thức này gọi là hình thức tiết kiệm. - Các tổ chức đoàn thể xã hội: khi thu đoàn phí, thu bảo hiểm xã hội. trong lúc chưa sử dụng, cũng mang đến gửi vào ngân hàng.
- Các nhà sản xuất kinh doanh: Quá trình chu chuyển tiền tệ luôn xuất hiện một bộ phận tiền tệ tạm thời rời khỏi hoạt động sản xuất kinh doanh. Đó là lúc tiền bán hàng về tạm thời chưa trả lương công nhân, chưa đến kỳ mua vật tư hàng hoá Học viên: Lại Thị Mỹ Hạnh 7 Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007-2009 Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội cho chu kỳ sản xuất tới. Khi đó tiền về tài khoản tại ngân hàng trở thành "tạm thời nhàn rỗi", các nhà doanh nghiệp tư nhân để tại ngân hàng. * Tác dụng của hoạt động nhận tiền gửi.
- Thông qua hoạt động nhận tiền gửi, tập hợp được một số tiền tạm thời chưa sử dụng của các chủ sở hữu vào ngân hàng để rồi ngân hàng sử dụng tiền nhàn rỗi đó tài trợ lại cho nền kinh tế. - Người gửi tiền tiết kiệm được nhận một khoản tiền thưởng dưới danh nghĩa lãi suất trên tổng số tiền gửi tiết kiệm ở các ngân hàng, với mức độ an toàn và hình thức thanh khoản cao. Số tiền huy động được thông qua hình thức tiết kiệm, luôn sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân, nhằm mở rộng khả năng sản xuất và các mục đích sinh hoạt cá nhân.2 Tài trợ (sử dụng vốn) Tài trợ là quá trình ngân hàng sử dụng số tiền "tạm thời nhàn rỗi" của nền kinh tế mà bản thân NH đã huy động được để cung cấp cho các đối tượng có nhu cầu phục vụ đầu tư sản xuất kinh doanh và tiêu dùng cá nhân. Các đối tượng có nhu cầu được chia thành hai nhóm chính: Tài trợ cho Chính phủ và Tài trợ cho nền kinh tế.
Ngân hàng "tài trợ" cho nền kinh tế thông qua các hình thức cơ bản sau đây: Một là: cho vay (tín dụng). Tín dụng ngân hàng là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể một bên chuyển giao tiền cho bên kia được sử dụng một thời gian nhất định và bên nhận tiền phải cam kết hoàn trả theo thời hạn thoả thuận. Sau đó theo thoả thuận, người đi vay phải trả cho người cho vay. Giá trị được hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị khi cho vay.
Hay nói cách khác: người đi vay ngoài việc hoàn trả gốc còn phải trả cho người cho vay một khoản lãi. Hai là: Hùn vốn, góp vốn mua cổ phần, liên doanh liên kết là việc NH sử dụng nguồn vốn của mình để đầu tư vào một đơn vị khác để thực hiện các phương án sản xuất - kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận, thúc đẩy kinh tế phát triển. Ba là: Cho thuê là hình thức chuyển giao quyền sử dụng từ người cho thuê sang người đi thuê. Người đi thuê chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu Học viên: Lại Thị Mỹ Hạnh 8 Khoa Kinh tế và Quản lý Cao học QTKD 2007-2009 Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh Trường Đại học Bách khoa Hà Nội tài sản của người cho thuê.
Người đi thuê phải trả người cho thuê một khoản tiền nhằm bù đắp khấu hao của tài sản và một phần lợi nhuận.3 Thực hiện các dịch vụ khác - Thực hiện trao đổi ngoại tệ : Lịch sử cho thấy rằng một trong những DVNH đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ - một nhà ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này, chẳng hạn USD lấy một loại tiền khác, chẳng hạn Franch hay Pesos và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn nhất thực hiện bởi vì những giao dịch như vậy có mức độ rủi ro cao, đồng thời yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao [3]. - Cung cấp các tài khoản giao dịch : Một chiến dịch mới, quan trọng nhất được phát triển là tài khoản tiền gửi giao dịch - một tài khoản tiền gửi viết séc thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ.