CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CHUYỂN GIÁ 1. Tổng quan về chuyển giá và kiểm soát chuyển giá 1. Khái niệm chuyển giá và kiểm soát chuyển giá 1. Khái niệm về chuyển giá Khái niệm “Chuyển giá” đã xuất hiện trong bộ luật doanh thu nội bộ (IRC – Internal Revenue Code) của Hoa Kỳ từ những năm 1930.
Theo thời gian, cùng với sự phát triển và hoạt động mạnh mẽ của các công ty đa quốc gia cũng như các cách thức mà Chính phủ các quốc gia sử dụng để kiểm soát, có thể khái lược một số quan điểm sau đây về chuyển giá: Quan điểm thứ nhất của OECD (2007): Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với sản phẩm (tài sản hữu hình, tài sản vô hình, dịch vụ, lãi tiền vay) được chuyển dịch giữa các bên có quan hệ liên kết không theo giá giao dịch thông thường trên thị trường, nhằm tối thiểu hóa tổng số thuế phải nộp của tất cả các bên liên kết trên toàn cầu. Đây là quan điểm được OECD đưa ra và hiện đang được nhiều tổ chức, nhiều quốc gia sử dụng làm định nghĩa về hoạt động chuyển giá. Quan điểm thứ hai của Garry (2012): Chuyển giá là một hành vi chủ ý thông đồng giữa các công ty trong cùng một tập đoàn để thỏa thuận giá cả không dựa trên giá thị trường, nhằm chuyển lợi nhuận từ công ty này sang công ty khác ở các nước khác nhau nhằm tránh nộp thuế đầy đủ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn tập đoàn. Cơ sở thiết lập giá giao dịch như vậy xuất phát từ quyền tự do kinh doanh.
Theo đó, các doanh nghiệp liên kết có quyền quyết định giá giao dịch mà họ cho là phù hợp. Quan điểm thứ ba của E. Bai Strocchi (2012): Chuyển giá là hoạt động mang tính chủ quan, cố ý của các tập đoàn nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp bằng cách định giá mua bán sản phẩm, nguyên vật liệu… giữa các công ty trong cùng một tập đoàn không tuân theo giá thị trường nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Quan điểm thứ tư của KPMG (2012): Chuyển giá là việc định giá hàng hóa dịch vụ chuyển giao giữa các công ty liên kết có chi nhánh các quốc gia khác nhau nhằm tối ưu hóa lợi nhuận của tập đoàn. 10 Ngày nay, hoạt động chuyển giá diễn ra hết sức tinh vi, hướng tới nhiều mục tiêu, trong đó mục tiêu cơ bản là tối thiểu hóa số thuế của toàn tập đoàn, công ty đa quốc gia.
Chính vì thế, việc xác định thế nào là chuyển giá cần căn cứ trên thực tế chứ không chỉ xem xét dựa trên định nghĩa của OECD. Từ các quan điểm trên có thể thấy: “Chuyển giá là việc thực hiện chính sách giá đối với các hàng hóa, dịch vụ cũng như tài sản được giao dịch giữa các thành viên trong một tập đoàn hoặc giữa các công ty có mối liên kết với nhau không theo các tiêu chuẩn giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế thu nhập phải nộp của tập đoàn hay nhóm công ty liên kết đó” Tóm lược lại có thể thấy, chuyển giá luôn gắn liền với 3 khía cạnh: Thứ nhất, việc định giá các giao dịch (mua bán hàng hóa, dịch vụ, tài sản hữu hình, tài sản vô hình, cung cấp vốn và tài chính, phân bổ hay chia s chi phí, v.v…) giữa các bên liên quan theo nguyên tắc độc lập (ALP). Thứ hai, giá chuyển giao giữa các bên có quan hệ GDLK (ví dụ như các công ty mẹ và công ty con trong một nhóm các công ty được kiểm soát thuộc cùng một tập đoàn hoặc giữa các công ty có mối liên kết nào đó về mặt sở hữu hoặc quản lý) không theo giá thị trường phổ biến. Khác với “Giao dịch độc lập” là giao dịch giữa các bên không có quan hệ liên kết, “Giao dịch liên kết” là giao dịch phát sinh giữa các bên có quan hệ liên kết trong quá trình sản xuất, kinh doanh, bao gồm: Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng máy móc, thiết bị, hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận sử dụng chung nguồn lực như hợp lực, hợp tác khai thác sử dụng nhân lực; chia s chi phí giữa các bên liên kết.
Thứ ba, đây là hành vi có chủ đích của doanh nghiệp, trong đó giảm thiểu tổng mức thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho chính phủ các quốc gia là mục tiêu cơ bản nhất. Cần phân biệt chuyển giá với trường hợp khai giá trị giao dịch không trung thực/không chính xác đối với cơ quan quản lý để trốn thuế. Đối với trường hợp khai giá giao dịch không chính xác để trốn thuế, các bên giao dịch vẫn thực hiện thanh toán 11 đầy đủ theo giá thỏa thuận. Trong khi đó, nếu là giao dịch chuyển giá, giá cả trong giao dịch chính là giá thỏa thuận nên các bên sẽ không phải thực hiện việc thanh toán khoản chênh lệch giữa giá giao dịch nội bộ và giá thị trường.
Khái niệm kiểm soát chuyển giá Kiểm soát hoạt động chuyển giá xuất hiện như một nhu cầu khách quan trước hoạt động chuyển giá diễn ra trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát chuyển giá chính là Nhà nước. Theo đó, “Kiểm soát hoạt động chuyển giá được hiểu là là việc xây dựng và triển khai các quy phạm pháp luật và áp dụng các nghiệp vụ kỹ thuật nhằm xem xét, phát hiện và xử lý sai phạm, điều chỉnh giá giao dịch giữa các bên liên kết nhằm duy trì hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế, đảm bảo giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết phù hợp với giá thị trường” (UN (2013), Sổ tay hướng dẫn thực hành về chuyển giá cho các nước đang phát triển) Theo khuyến nghị của Liên hiệp quốc đối với các quốc gia đang phát triển, để thực hiện kiểm soát hoạt động chuyển giá một cách có hiệu quả, Chính phủ các quốc gia cần thực hiện đồng bộ các nội dung sau đây: Hình 1.1: Nội dung kiểm soát hoạt động chuyển giá với các nước đang phát triển Kiểm soát hoạt động chuyển giá của các công ty đa quốc gia Xây dựng cơ sở dữ Tổ chức bộ máy về Triển khai hoạt Xây dựng khung liệu giá cả giao kiểm soát chuyển động kiểm soát pháp lý dịch giá chuyển giá (Nguồn: Khuyến nghị của Liên hiệp quốc về chuyển giá dành cho các nước đang phát triển) Tùy theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia cũng như bối cảnh hội nhập quốc tế, 12 dựa trên cơ sở khuyến nghị của Liên hiệp quốc, các quốc gia có thể xây dựng bổ sung các nội dung như: Nội dung cải cách thuế, nội dung hợp tác quốc tế về thuế… 1. Đặc điểm chuyển giá Hành vi chuyển giá trong các giao dịch liên kết có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, hành vi chuyển giá chỉ được thực hiện giữa các chủ thể hoạt động trong cùng một nhóm liên kết hoặc giữa các chủ thể độc lập song có chung lợi ích. Bao gồm các thành viên trong cùng một tập đoàn, các công ty con.
Hai là, giá cả thực hiện trong các giao dịch chuyển giá không dựa theo giá thị trường, mà do các nhà quản lý của doanh nghiệp hoặc các bên có chung lợi ích thống nhất đưa ra. Trong hành vi chuyển giá, các giá trị chuyển giao được thể hiện trên chứng từ kế toán chỉ mang tính hình thức, không phản ánh giá trị thực của giao dịch, “không hình thành từ quan hệ cung – cầu”. Ba là, chuyển giá không làm cho tổng giá trị hình thành trong xã hội thay đổi mà chỉ là sự phân phối lại hay chuyển dịch lợi ích từ chủ thể này sang chủ thể khác. Khi một tập đoàn đa quốc gia thực hiện hành vi chuyển giá thành công, lợi nhuận sau thuế xét trên phạm vi toàn tập đoàn tăng lên, song nguồn thu thuế ở quốc gia áp dụng thuế suất cao giảm xuống, trong khi nguồn thu thuế ở quốc gia áp dụng thuế suất thấp có thể tăng lên.
Trên phương diện pháp lý, cần phải phân biệt giữa “chuyển giá hợp pháp” và “chuyển giá phi pháp”. Theo đó, việc doanh nghiệp tận dụng tối đa các quy định của pháp luật để dàn xếp một mức giá chuyển giao hàng hoá, dịch vụ sao cho không vi phạm quy định của các nước có liên quan thì hành vi đó không thể coi là phi pháp. Trường hợp này, kết quả dẫn đến là doanh nghiệp tiết kiệm được số tiền thuế một cách hợp pháp (né thuế, tránh thuế). Trái lại, các giao dịch hàng hoá, dịch vụ được dàn xếp mà vi phạm các điều luật về giá cả, điều kiện giao hàng, thực hiện dịch vụ hoặc yếu tố về chất lượng… sẽ được xếp vào diện “chuyển giá phi pháp”.
Hệ quả tất yếu của hành vi này là bị truy thu thuế, xử phạt thuế được thực hiện sau các cuộc thanh tra, kiểm tra của nhà chức trách có thẩm quyền. Hình thức chuyển giá Với mục đích là tối ưu hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa số thuế phải nộp cho Chính phủ tại các quốc gia mà MNEs có chi nhánh, MNEs đã thực hiện hành vi chuyển giá bằng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi và phức tạp. Tại Việt Nam, qua hoạt động kiểm soát, một số hình thức chuyển giá dưới đây đã bị phát hiện. Chuyển giá lỗ hay chuyển giá làm giảm lãi hoặc gây lỗ 1.
Chuyển giá thông qua hình thức nâng cao giá trị góp vốn Đây là một trong những hình thức chuyển giá tiêu biểu khi các MNEs thực hiện đầu tư nước ngoài theo hình thức liên doanh hay thành lập công ty 100% vốn nước ngoài. Khi đầu tư theo hình thức liên doanh, giai đoạn đầu, chuyển giá được thực hiện từng bước thông qua góp vốn: Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư thông qua việc góp vốn vào doanh nghiệp bằng máy móc, thiết bị và công nghệ. Đa số các doanh nghiệp nội địa bị hạn chế về nguồn lực tài chính nên tham gia góp vốn chủ yếu bằng quyền sử dụng đất.