CHƯƠNG 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP FDI. Những vấn đề cơ bản về doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm và đặc trưng của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI Khái niệm FDI là chữ viết tắt của cụm từ “Foreign Direct Investment”. FDI là một khái niệm kinh tế cơ bản và đã được định nghĩa bởi nhiều tổ chức kinh tế cũng như luật pháp của các quốc gia dựa trên các góc độ nghiên cứu khác nhau.
- Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thì Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
- Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, international moneytary fund) thì Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác. Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. - Luật Đầu tư 2005 của Việt Nam cũng có định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tự do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
Từ những khái niệm trên có thể khái quát chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài có bản chất như đầu tư nói chung, đó là 5 việc sử dụng nguồn lực hiện tại để thực hiện tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu được các lợi ích trong tương lai (kết quả thu được phải lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra). Tuy nhiên, FDI nhấn mạnh vào địa điểm thực hiện của hoạt động này – là ở quốc gia khác quốc gia của tổ chức hoặc cá nhân sở hữu nguồn lực đầu tư (hay còn gọi là nhà đầu tư). Có thể hiểu FDI là sự di chuyển các nguồn lực từ quốc gia này sang quốc gia khác để tiến hành những hoạt động đầu tư nhằm thu được các lợi ích hữu hình hoặc vô hình. Đặc trưng Đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc trưng chủ yếu sau: Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dạng quan hệ kinh tế có yếu tố nước ngoài.
Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện ở sự khác biệt về quốc tịch hay lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ đầu tư trực tiếp nước ngoài mà còn thể hiện ở việc di chuyển tư bản trong đầu tư trực tiếp vượt khỏi biên giới một quốc gia. FDI bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó. Thứ hai, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp. Nói cách khác, các doanh nghiệp, các cá nhân người nước ngoài trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, sử dụng vốn đầu tư và vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu hồi vốn bỏ ra.
Thứ ba, FDI là hoạt động đầu tư của tư nhân chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các chính phủ. Thứ tư, FDI là hình thức đầu tư dài hạn và chủ yếu là do các công ty đa quốc gia thực hiện. Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động FDI trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận FDI diễn ra đã được gần 30 năm và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét.
Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút FDI phải chú ý để vừa thực 6 hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa kênh đầu tư FDI với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế. Doanh nghiệp FDI và các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Doanh nghiệp FDI) là các doanh nghiệp do chủ đầu tư nước ngoài đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn đủ lớn để tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý, điều hành, sử dụng vốn đầu tư, vận hành các kết quả đầu tư nhằm thu được lợi ích kinh tế. Trong thực tiễn các doanh nghiệp FDI thường được vận hành dưới những hình thức phổ biến như sau: Thứ nhất, đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh. Đây là hình thức đầu tư được ký kết giữa hai bên hoặc nhiều bên để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước tiếp nhận đầu tư trên cơ sở quy định rõ đối tượng, nội dung kinh doanh, nghĩa vụ, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên mà không thành lập pháp nhân mới.
Chủ thể của hợp đồng gồm hai bên hoặc nhiều bên, trong đó bên nước tiếp nhận đầu tư cụ thể là Việt Nam có thể là một hoặc nhiều doanh nghiệp Việt Nam thuộc nhiều thành phần kinh tế hoặc là các cơ quan có thẩm quyền. Hình thức đầu tư này giúp các nhà đầu tư tiến hành hoạt động đầu tư được nhanh chóng mà không không mất thời gian, tiền bạc để thành lập và quản lý một pháp nhân mới. Ngoài ra hình thức đầu tư này có ưu điểm là giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyền điều hành dự án của nước tiếp nhận đầu tư, thu lợi nhuận tương đối ổn định. Tuy nhiên, nó có nhược điểm là nước tiếp nhận đầu tư không tiếp nhận được kinh nghiệm quản lý; công nghệ thường lạc hậu; chỉ thực hiện được đối với một số ít lĩnh vực dễ sinh lời như thăm dò dầu khí.
Thứ hai, thành lập tổ chức kinh tế dưới hình thức liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Đây là hình thức được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ trước tới nay. Doanh nghiệp liên doanh là loại hình doanh nghiệp do hai bên hoặc các bên nước ngoài hợp tác với nước tiếp nhận đầu tư cùng góp vốn, cùng 7 kinh doanh, cùng hưởng lợi nhuận và chia sẻ rủi ro theo tỷ lệ góp vốn. Tại Việt Nam, nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh Nghiệp và pháp luật có liên quan.
Hình thức DNLD tạo nên pháp nhân đồng sở hữu nhưng địa điểm đầu tư phải ở nước tiếp nhận đầu tư. Hiệu quả hoạt động của DNLD phụ thuộc rất lớn vào môi trường kinh doanh của nước tiếp nhận đầu tư, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước tiếp nhận đầu tư. Hình thức DNLD có những ưu điểm là góp phần giải quyết tình trạng thiếu vốn, nước tiếp nhận đầu tư tranh thủ được nguồn vốn lớn để phát triển kinh tế nhưng lại được chia sẻ rủi ro; có cơ hội để đổi mới công nghệ, đa dạng hóa sản phẩm; tạo cơ hội cho người lao động có việc làm và học tập kinh nghiệm quản lý của nước ngoài; Nhà nước của nước tiếp nhận đầu tư dễ dàng hơn trong việc kiểm soát được đối tác nước ngoài. Về phía nhà đầu tư, hình thức này là công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài một cách hợp pháp và hiệu quả, tạo thị trường mới, góp phần tạo điều kiện cho nước tiếp nhận đầu tư tham gia hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên, hình thức này có nhược điểm là thường dễ xuất hiện mâu thuẫn trong điều hành, quản lý doanh nghiệp do các bên có thể có sự khác nhau về chế độ chính trị, phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, luật pháp. Nước tiếp nhận đầu tư thường rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ góp vốn thấp, năng lực, trình độ quản lý của cán bộ tham gia trong DNLD yếu. Thứ ba, thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đây là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, được thành lập tại nước tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư nước ngaoì tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất, kinh doanh.
Có thể hiểu rằng, nhà đầu tư nước ngoài chính là các công ty đa quốc gia (MNC). Tại Việt Nam, các công ty đa quốc gia đầu tư theo hình thức 100% vốn để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh Nghiệp và pháp luật có liên quan. 8 Hình thức này có ưu điểm đối với bản thân nước chủ nhà là không phải góp vốn và không phải chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của đầu tư đối với những lĩnh vực có độ rủi ro cao hoặc với những ngành sản xuất mới. Với phía nước ngoài đây cũng là hình thức được ưa chuộng bởi ngoài việc phải tuân thủ theo những quy định có tính pháp luật của nước chủ nhà thì bên phía nước ngoài toàn quyền trong việc điều hành và quản lý doanh nghiệp của mình.
Ngoài những hình thức đầu tư trên, còn một vài hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài khác như BOT (xây dựng – kinh doanh – chuyển giao), BTO (xây dựng – chuyển giao – kinh doanh)… 1. Chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm, phân loại chuyển giá 1.