Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg và Nghị quyết 26-NQ/TW đóng vai trò cốt lõi trong chiến lược hiện đại hóa nông nghiệp, nông dân và nông thôn Việt Nam. Tại huyện Pác Nặm, một huyện vùng cao đặc biệt khó khăn của tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích tự nhiên 47.539,13 ha và hơn 31.283 nhân khẩu thuộc 7 dân tộc anh em cùng sinh sống, công cuộc xây dựng nông thôn mới đang đối mặt với nhiều rào cản địa lý và kinh tế. Địa hình đồi núi có độ dốc lớn chiếm tới 56,80% và độ dốc rất lớn chiếm 27,34%, khiến chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng tăng gấp nhiều lần so với các vùng đồng bằng. Nhu cầu vốn xây dựng nông thôn mới tại mỗi xã lên tới hàng chục, hàng trăm tỷ đồng, trong khi nguồn lực từ ngân sách Nhà nước chỉ đáp ứng được một phần nhất định.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá thực trạng triển khai 19 tiêu chí nông thôn mới và phân tích sâu cơ chế huy động các nguồn lực cộng đồng trên địa bàn huyện Pác Nặm giai đoạn 2016 - 2018. Trên cơ sở đó, đề tài xác định 6 nhóm nguyên nhân gây nghẽn nguồn lực và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm khơi dậy nội lực của người dân tại 10 đơn vị hành chính xã và 118 thôn bản. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2017 đến tháng 02/2019, tập trung khảo sát thực địa tại 3 xã đại diện gồm Giáo Hiệu, Bộc Bố và Cổ Linh. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ vững chắc giúp chính quyền địa phương nâng cao tỷ lệ huy động vốn ngoài ngân sách từ mức dưới 15% lên mức bền vững hơn, đồng thời tối ưu hóa sự tham gia đóng góp đất đai, ngày công và trí tuệ của cộng đồng bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Phát triển nông thôn dựa vào nội lực cộng đồng (Asset-Based Community Development - ABCD) do Jody Kretzmann và John McKnight khởi xướng năm 1993. Tiếp cận này nhấn mạnh việc phát huy các kỹ năng, tri thức bản địa và sức mạnh nội tại sẵn có của cư dân nông thôn thay vì thụ động trông chờ vào các khoản cứu trợ từ bên ngoài. Bên cạnh đó, luận văn tích hợp khung phân tích 4 cấp độ tham gia của Cohen và Uphoff năm 1979 (bao gồm ra quyết định, thực hiện, hưởng lợi, đánh giá) kết hợp với mô hình 3 dạng thức tham gia của Oakley năm 1987 (tham gia tổ chức, tham gia trao quyền, tham gia đóng góp).

Hệ thống khái niệm trung tâm của đề tài bao gồm 5 cấu phần nguồn lực cộng đồng theo Gord Cunningham năm 2006: tài sản con người, tài sản xã hội, tài nguyên thiên nhiên, tài sản vật chất và tài sản tài chính. Khái niệm xây dựng nông thôn mới được vận dụng chuẩn hóa theo Bộ tiêu chí quốc gia tại Quyết định số 491/QĐ-TTg với 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm lĩnh vực then chốt. Ngoài ra, luận văn còn đối chiếu kinh nghiệm từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc khởi xướng từ năm 1970 với nguyên tắc hỗ trợ vốn có điều kiện và phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại Nhật Bản với hơn 329 sản phẩm thương mại hóa thành công, rút ra bài học về vai trò chủ thể của người dân và quy chế tự quản cơ sở.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên kết hợp phỏng vấn sâu nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ cấu trúc địa bàn huyện Pác Nặm. Cỡ mẫu khảo sát thực địa trực tiếp gồm n = 135 hộ gia đình nông thôn và n = 30 cán bộ quản lý cấp xã, thôn tại 3 xã điểm: Giáo Hiệu (xã vùng trung tâm thuận lợi), Bộc Bố (trung tâm kinh tế - chính trị huyện) và Cổ Linh (xã vùng cao đặc biệt khó khăn). Lý do lựa chọn 3 xã này xuất phát từ sự tương phản rõ nét về điều kiện tự nhiên, hạ tầng kỹ thuật và mức độ tích lũy nguồn lực kinh tế của cư dân.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám thống kê huyện Pác Nặm giai đoạn 2015 - 2017, các báo cáo tổng kết 3 năm thực hiện chương trình nông thôn mới (2016 - 2018) và các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 24/1999/NĐ-CP, Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11 và Thông tư liên tịch số 26/2017/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC. Dữ liệu sơ cấp được xử lý bằng các phương pháp thống kê mô tả, so sánh tỷ lệ phần trăm và phân tích ma trận điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT). Việc lựa chọn phương pháp phân tích thống kê và SWOT cho phép lượng hóa chính xác mức độ đóng góp tài chính, công lao động, đồng thời nhận diện tường minh các rào cản xã hội học trong quá trình triển khai chính sách tại địa phương trong suốt mốc thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2017 đến tháng 02/2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu nguồn vốn đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Pác Nặm giai đoạn 2016 - 2018 phản ánh sự mất cân đối nghiêm trọng. Vốn ngân sách Nhà nước (bao gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương) giữ vai trò chủ đạo, chiếm trên 78,5% tổng nguồn vốn huy động. Trong khi đó, nguồn vốn tín dụng chỉ chiếm khoảng 11,2%, nguồn vốn do nhân dân và cộng đồng đóng góp chỉ chiếm khoảng 7,8%, và phần huy động từ các doanh nghiệp, hợp tác xã ở mức rất khiêm tốn dưới 2,5%.

Thứ hai, hình thức đóng góp của 135 hộ gia đình khảo sát có sự phân hóa rõ rệt giữa các loại nguồn lực. Có tới 74,8% số hộ đã tham gia đóng góp ngày công lao động trực tiếp để làm đường giao thông liên thôn, nội đồng và kiên cố hóa kênh mương; 62,2% số hộ tự nguyện hiến đất nông nghiệp hoặc đất lâm nghiệp phục vụ giải phóng mặt bằng các công trình công cộng. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ sẵn sàng đóng góp trực tiếp bằng tiền mặt chỉ đạt 18,5% do thu nhập bình quân của các hộ dân vùng cao còn ở mức rất thấp, chủ yếu phụ thuộc vào 5.755,37 ha đất sản xuất nông nghiệp manh mún.

Thứ ba, mức độ hiểu biết và nhận thức của người dân về bản chất 19 tiêu chí nông thôn mới còn nhiều hạn chế. Chỉ có 37,0% số người dân được phỏng vấn hiểu đúng về mục tiêu xây dựng nông thôn mới là phát huy nội lực bản thân, trong khi hơn 63,0% số hộ vẫn giữ tâm lý ỷ lại, xem đây là một dự án đầu tư công thuần túy của Nhà nước.

Thứ tư, công tác đào tạo và nâng cao năng lực điều hành cho đội ngũ cán bộ cấp cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong số 30 cán bộ xã và thôn được khảo sát, có tới 53,3% cán bộ thừa nhận gặp khó khăn, lúng túng trong quy trình lấy ý kiến nhân dân, lập kế hoạch tài chính dân chủ và triển khai cơ chế giám sát đầu tư cộng đồng theo Quyết định số 80/2005/QĐ-TTg.

Thảo luận kết quả

Thực trạng cơ cấu vốn phụ thuộc nặng nề vào ngân sách và tỷ lệ đóng góp tiền mặt thấp bắt nguồn trực tiếp từ điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của huyện Pác Nặm. Với địa hình thung lũng bằng chỉ chiếm 4,46% diện tích, giao thông cách trở và tỷ lệ hộ nghèo cao, khả năng tích lũy tài chính của người dân là rào cản lớn nhất. Để minh họa trực quan, dữ liệu về nguồn vốn và mức độ tham gia có thể được trình bày thông qua biểu đồ hình quạt thể hiện cơ cấu các nguồn lực giai đoạn 2016 - 2018, kết hợp với bảng ma trận SWOT tổng hợp các nhân tố nội tại và ngoại cảnh tác động đến năng lực huy động của địa phương.

So sánh với các nghiên cứu thực nghiệm về mô hình Saemaul Undong của Hàn Quốc, sự thành công bền vững chỉ đạt được khi tỷ trọng hỗ trợ bao cấp giảm dần tương ứng với mức gia tăng trách nhiệm tự quản của cộng đồng làng xã. Tại Pác Nặm, mặc dù người dân thể hiện tinh thần đoàn kết cao thông qua việc hiến đất và góp công, nhưng việc thiếu vắng các cơ chế khuyến khích kinh tế và mô hình sản xuất nông sản hàng hóa theo chuỗi giá trị đã kìm hãm động lực đóng góp tài chính lâu dài của cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, thực hiện chuyển đổi linh hoạt hình thức huy động nguồn lực tài chính sang công lao động và vật liệu tại chỗ. Ủy ban nhân dân các xã Bộc Bố, Giáo Hiệu và Cổ Linh cần ban hành hướng dẫn cho phép các hộ nghèo, hộ cận nghèo quy đổi 100% nghĩa vụ đóng góp tiền mặt thành ngày công lao động trực tiếp trong các dự án hạ tầng thôn bản. Đồng thời, giao quyền cho các nhóm thợ và Ban phát triển thôn tự tổ chức thi công các công trình quy mô nhỏ nhằm giữ lại nguồn thu nhập tại chỗ cho người dân, đặt mục tiêu giảm 50% gánh nặng đóng góp tiền mặt cho các hộ khó khăn trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, đổi mới công tác tuyên truyền và vận động hiến đất gắn liền với quy chế biểu dương kịp thời. Ban Chỉ đạo Nông thôn mới cấp xã chủ trì, phối hợp với Hội Nông dân và Đoàn Thanh niên thành lập các tổ vận động lưu động đến từng gia đình có tuyến đường đi qua để giải thích rõ quyền lợi dài hạn. Thiết lập chuyên mục phát thanh định kỳ 2 lần/tuần trên hệ thống loa truyền thanh xã để vinh danh các hộ hiến đất tiêu biểu, phấn đấu đạt tỷ lệ 90% hộ dân tự nguyện bàn giao mặt bằng thi công hạ tầng giao thông nông thôn đúng tiến độ cam kết.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình tham vấn cộng đồng và minh bạch tài chính theo Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH11. Ban Quản lý Nông thôn mới huyện chỉ đạo các xã chia nhỏ 19 tiêu chí thành các chủ đề ngắn gọn, dễ hiểu trước khi tổ chức họp thôn lấy ý kiến. Công khai 100% các khoản thu chi, đóng góp tự nguyện tại nhà văn hóa thôn và trụ sở Ủy ban nhân dân xã, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ người dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng đề án xã từ 37% lên trên 80% trước năm 2023.

Thứ tư, tăng cường tập huấn chuyên môn quản lý dự án cho đội ngũ cán bộ cơ sở. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Pác Nặm phối hợp với các cơ sở đào tạo tổ chức 2 đợt tập huấn chuyên sâu hàng năm cho 100% cán bộ thuộc Ban Chỉ đạo cấp xã và Ban Phát triển của 118 thôn bản, bảo đảm 100% các thôn thành lập và vận hành hiệu quả Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng theo đúng quy định.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và hệ thống giải pháp của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, cán bộ quản lý Nhà nước và thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình Nông thôn mới các cấp tại các huyện miền núi, vùng cao khó khăn. Đây là tài liệu tham khảo thiết thực về phương thức điều phối nguồn vốn lồng ghép, kỹ thuật vận động quần chúng và cơ chế phân cấp quản lý công trình hạ tầng quy mô nhỏ cho cấp cơ sở.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản lý công và Xã hội học. Luận văn cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về phương pháp tiếp cận dựa vào nội lực cộng đồng (ABCD) cùng bộ dữ liệu thực chứng gồm 135 hộ dân và 30 cán bộ làm cơ sở so sánh học thuật.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các ban quản lý dự án tài trợ phát triển cộng đồng trong và ngoài nước. Nghiên cứu cung cấp bức tranh chi tiết về văn hóa, tập quán canh tác của 7 dân tộc thiểu số tại Pác Nặm, giúp thiết kế các can thiệp sinh kế và nâng cao năng lực quản trị địa phương đạt độ tương thích cao.

Thứ hai, đội ngũ lãnh đạo Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và trưởng thôn bản tại các xã vùng sâu, vùng xa. Công trình đem lại các bài học cụ thể về giải quyết mâu thuẫn trong giải phóng mặt bằng, phương pháp tổ chức cuộc họp thôn dân chủ và kỹ năng huy động ngày công lao động hiệu quả.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn lực cộng đồng đóng vai trò quyết định như thế nào đối với xây dựng nông thôn mới tại huyện Pác Nặm? Nguồn lực cộng đồng không chỉ dừng lại ở tiền của mà bao gồm đất đai, ngày công, tri thức bản địa và sự đồng thuận xã hội. Trong bối cảnh ngân sách chỉ đáp ứng một phần, việc 62,2% số hộ hiến đất và 74,8% số hộ góp công giúp giảm 20% đến 30% tổng chi phí đầu tư các công trình liên thôn, quyết định tính bền vững của 19 tiêu chí.

Làm thế nào để huy động nguồn lực hiệu quả tại các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao? Giải pháp then chốt là chuyển đổi phương thức đóng góp từ tiền mặt sang ngày công lao động và khai thác vật liệu tại chỗ như cát, sỏi. Đồng thời, chính quyền cần giao quyền thi công các công trình nội thôn trực tiếp cho cộng đồng dân cư hưởng lợi, tạo thêm việc làm và sinh kế giúp người dân có thêm thu nhập.

Vai trò của Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 trong việc khơi dậy nội lực của người dân là gì? Pháp lệnh 34 xác lập nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Khi mọi kế hoạch phân bổ vốn và mức đóng góp được công khai 100% tại nhà văn hóa thôn, người dân xóa bỏ tâm lý hoài nghi, nâng tỷ lệ đồng thuận tham gia các phong trào thi đua chung lên trên 85%.

Mô hình phát triển nông thôn quốc tế nào có thể vận dụng phù hợp vào huyện Pác Nặm? Mô hình Saemaul Undong của Hàn Quốc và phong trào Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) của Nhật Bản là hai bài học điển hình. Pác Nặm có thể áp dụng cơ chế thưởng công trình cho thôn làm tốt của Hàn Quốc và khai thác 40.031,17 ha đất lâm nghiệp để phát triển các đặc sản nông - lâm sản đặc trưng theo mô hình OVOP.

Phương pháp khảo sát 135 hộ và 30 cán bộ tại 3 xã nghiên cứu có bảo đảm tính đại diện không? Mẫu khảo sát được chọn ngẫu nhiên phân tầng tại 3 xã Giáo Hiệu, Bộc Bố và Cổ Linh đại diện cho 3 tiểu vùng địa hình, trình độ phát triển kinh tế và đặc điểm văn hóa khác nhau của 10 xã thuộc huyện Pác Nặm. Kết hợp khảo sát 135 hộ và phỏng vấn sâu 30 cán bộ bảo đảm dữ liệu có độ tin cậy và phản ánh khách quan thực tiễn.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Pác Nặm giai đoạn 2016 - 2018, chỉ rõ nguồn vốn ngân sách Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng chi phối trên 78,5%, trong khi đóng góp từ cộng đồng còn nhiều dư địa phát triển.
  • Xác định hình thức đóng góp chủ đạo của người dân là ngày công lao động (74,8%) và hiến đất (62,2%), đồng thời chỉ ra rào cản lớn nhất trong đóng góp tài chính tiền mặt bắt nguồn từ điều kiện kinh tế hộ nghèo và địa hình chia cắt phức tạp.
  • Nhận diện hệ thống 6 nguyên nhân cốt lõi dẫn đến khó khăn trong huy động nguồn lực, nổi bật là hạn chế trong nhận thức của 63% người dân và kỹ năng quản lý dự án cộng đồng của hơn 53% cán bộ thôn bản.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính đột phá, trọng tâm là chuyển đổi nghĩa vụ tài chính thành lao động, nâng cao năng lực cho 118 thôn bản và thực thi triệt để quy chế dân chủ cơ sở theo Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11.
  • Khẳng định giá trị tham chiếu thực tiễn sâu sắc của mô hình huy động nguồn lực nội sinh cho các địa phương miền núi có điều kiện tự nhiên và cơ cấu dân tộc tương đồng trên cả nước.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến năm 2025, chính quyền địa phương cần nhanh chóng số hóa cơ sở dữ liệu giám sát đầu tư cộng đồng và nhân rộng các mô hình tổ thợ tự quản tại các xã vùng cao. Các cấp quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp các luận cứ trong công trình này để triển khai hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo hướng bền vững, tự chủ và giàu bản sắc.