phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo báo cáo gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về kế toán Doanh thu, Chi phí và Xác định kết quả kinh doanh Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hằng 2 Lớp K21B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức Chƣơng 3: Thực trạng kế toán Doanh thu, Chi phí và Xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phú Thắng. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán Doanh thu, Chi phí và Xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phú Thắng. Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hằng 3 Lớp K21B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về kế toán Doanh thu, Chi phí và Xác định kết quả kinh doanh không phải là một đề tài mới hay xa lạ. Tuy nhiên, đó lại là một vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về đề tài này nhƣ: 1. Tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2016) với đề tài “Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Minh Hải” đã xác định: - Về đối tƣợng nghiên cứu: Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty TNHH Minh Hải - Về kết quả nghiên cứu: Đề tài đã tìm hiểu thực tế công tác Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty. Rút ra đƣợc những ƣu, nhƣợc điểm trong công tác Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty đối với việc cung cấp thông tin cho nhà quản trị. Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong công tác Kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty nhƣ: Thứ nhất, hạn chế của Kế toán Doanh thu, Chi phí và Xác định kết quả kinh doanh tại công ty dƣới góc độ kế toán tài chính.
-Những hạn chế về kế toán doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu: Về các khoản chiết khấu thương mại: khoản chiết khấu thƣơng mại đối với khách hàng giao dịch nhiều lần đạt số lƣợng lớn của công ty đƣợc trừ luôn trên hóa đơn cuối cùng, không theo dõi qua tài khoản 5211 “ Chiết khấu thƣơng mại” là chƣa hợp lý. Trong trƣờng hợp này, khi lập hóa đơn cuối cùng có thể hiện khoản chiết khấu thƣơng mại khách hàng đƣợc hƣởng. Vì vậy, cần thiết kế toán phải theo dõi khoản chiết khấu này qua tài khoản 5211 để tránh sai sót trong quá trinh xử lý số liệu. Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hằng 4 Lớp K21B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức Kế toán hàng bán trả lại: liên quan đến chính sách đổi hàng với khách lẻ của công ty.
Khi bán lẻ, hàng bị lỗi công ty không ghi nhận hàng bán trả lại mà đổi hàng cho khách, nhƣng kế toán không tiến hành hạch toán các tài khoản có liên quan, không điều chính số liệu kế toán dẫn đến sai số liệu, ảnh hƣởng đến kết quả kinh doanh. Kế toán doanh thu và thu nhập khác: Hàng tháng, kế toán không tiến hành ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính từ các khoản cho vay, các khoản tiền gửi tiết kiệm mà chỉ ghi nhận doanh thu hoạt động tài chính khi nhận tiền lãi (nhƣ vậy đối với các khoản lãi trả sau, trả trƣớc kế toán đều tiến hành ghi nhận ở thời điểm nhận tiền lãi). Đồng thời kế toán cũng không ghi nhận các khoản thu nhập khác khi chƣa thực thu tiền. Việc hạch toán nhƣ vậy đã vi phạm nguyên tắc cơ sở dồn tích, doanh thu, thu nhập không đƣợc ghi nhận ở thời điểm phát sinh mà đƣợc ghi nhận tại thời điểm thực thu tiền.
- Những hạn chế về kế toán dự phòng tổn thất tài sản và kế toán giá vốn hàng bán: Về kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Hiện nay hàng hóa nội thất đa dạng và phong phú về chủng loại cũng nhƣ mẫu mã, khách hàng có nhiều sự lựa chọn. Đồng thời với đó là công nghệ ngày càng tiên tiến, sản phẩm luôn đƣợc cải tiến phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng. Do việc đáp ứng nhu cầu thị trƣờng của công ty có giới hạn nên giá trị hàng tồn kho ứ đọng tại công ty mỗi năm là khá lớn.Ví dụ đến cuối năm 2015 giá trị hàng tồn kho chƣa tiêu thụ và trả lại lên đến 807.000 đồng là một con số tƣơng đối lớn.Vì vậy việc trích lập dự phòng hàng tồn kho tại công ty TNHH Minh Hải là rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay công ty không tiến hành trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho, công ty có thể gặp rủi ro khi không trích lập dự phòng.
Công ty cần thiết phải trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho để bù đắp tổn thất có thể xảy ra. Về kế toán dự phòng phải thu khó đòi: Đa số khách hàng của doanh nghiệp là khách hàng quen thuộc nhƣng lại thanh toán chậm dẫn đến tình trạng tồn đọng vốn. Vốn kinh doanh bị ứ đọng làm ảnh hƣởng lớn đến quá trình hoạt động kinh Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hằng 5 Lớp K21B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức doanh của doanh nghiệp. Số vòng quay lƣu động hấp dẫn đến hiệu quả kinh doanh không cao, doanh nghiệp có thể mất đi cơ hội kinh doanh.
Hàng năm công ty phải chịu một khoản tổn thất phát sinh từ các khoản nợ phải thu khó đòi này. Vì doanh nghiệp chƣa quan tâm đến chính sách thu hồi công nợ và chƣa tiến hành trích lập dự phòng các khoản phải thu khó đòi nên không lƣờng trƣớc đƣợc những rủi ro trong kinh doanh. Điều đó đã làm sai nguyên tắc thận trọng của kế toán, dễ gây đột biến chi phí dẫn đến sai lệch về xác định kết quả kinh doanh của kỳ đó. -Hạn chế về kế toán xác định kết quả kinh doanh Kế toán kết quả hoạt động kinh doanh: Tại doanh nghiệp chƣa tiến hành mở sổ chi tiết để theo dõi, hạch toán kết quả kinh doanh cho từng bộ phận và cho từng loại hình kinh doanh.
Điều này sẽ gây khó khăn cho kế toán cho việc cung cấp số liệu cho các nhà quản trị và ảnh hƣởng tới những quyết định của ban lãnh đạo công ty trong việc điều hành, ra quyết định. Ngoài ra, các báo cáo kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp đƣợc lập theo quý, năm tài chính nên việc xác định kết quả kinh doanh còn chậm, nhiều khi thƣờng ƣớc tính kết quả kinh doanh để phục vụ công tác báo cáo quản trị và ra các quyết định bán hàng. Thứ hai, những hạn chế của kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại công ty dƣới góc độ kế toán quản trị Việc tổ chức công tác kế toán tài chính và kế toán quản trị theo mô hình kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị, hệ thống này có ƣu điểm là tiết kiệm đƣợc chi phí cho công ty, kế toán quản trị kế thừa đƣợc những nội dung của kế toán tài chính đã tồn tại trong hệ thống kế toán hiện hành. Tuy nhiên, với bộ máy kế toán này thì mới chỉ đáp ứng đƣợc nhu cầu cung cấp thông tin phục vụ việc lập báo cáo tài chính, việc vận dụng kế toán quản trị còn hạn chế, tự phát, thiếu đồng bộ và chƣa thống nhất.
- Công ty hiện nay chủ yếu chú trọng lập Báo cáo tài chính phục vụ cho nhu cầu thông tin cho các đối tƣợng bên ngoài, còn các Báo cáo quản trị nhƣ: dự toán phục vụ cho việc lập kế hoạch, báo cáo phục vụ cho việc kiểm soát, đánh Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hằng 6 Lớp K21B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức giá, ra quyết định của nhà quản trị vẫn chƣa đƣợc lập, vì vậy các nhà quản trị chƣa đƣợc cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết cho việc phân tích chi phí, doanh thu, xác định kết quả kinh doanh. Do đó, làm giảm vai trò tham mƣu cho ban giám đốc đƣa ra quyết định đúng đắn, kịp thời trong quản lý và điều hành kinh doanh trƣớc tình hình cạnh tranh trên thị trƣờng mạnh mẽ nhƣ hiện nay. Nghiên cứu đã đƣa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện Kế toán Doanh thu, Chi phí và Xác định kết quả kinh doanh tại đơn vị nhƣ sau: Thứ nhất, Giải pháp dƣới góc độ kế toán tài chính -Hoàn thiện kế toán chiết khấu thƣơng mại Việc theo dõi và quản lý chặt chẽ chiết khấu thƣơng mại trong công ty vô cùng cần thiết, bởi lẽ công việc đó cung cấp thông tin tỷ trọng chiết khấu thƣơng mại trên tổng số các khoản giảm trừ doanh thu và chiết khấu thƣơng mại chiến bao nhiêu phần trăm trong tổng doanh thu.Từ đó, giúp các nhà quản lý đƣa ra các chính sách bán hàng hợp lý, kích thích tiêu dùng nhƣng không làm ảnh hƣởng đến lợi nhuận của công ty. -Hoàn thiện kế toán hàng bán bị trả lại Đối với chính sách đổi hàng bị lỗi cho khách lẻ, cần quản lý chặt chẽ hàng tồn kho theo mã hàng và kế toán hạch toán chi tiết vào sổ sách.
Trƣớc hết khi bị trả lại hàng công ty cần xác định hàng đổi trả là hàng đổi cùng loại hay khác loại. + Cách thứ nhất, do đổi hàng cùng loại giá trị hàng đổi là tƣơng đƣơng nên kế toán tiến hành hạch toán kế toán nhƣ sau: Về thủ tục chứng từ: cần thiết phòng kinh doanh phải lập phiếu nhập kho đối với hàng nhận lại từ khách, phiếu xuất kho đối với hàng xuất đổi cho khách. Đồng thời ghi nhận kế toán: ghi tăng hàng nhập kho và ghi giảm hàng xuất kho. Với cách này công việc hạch toán đơn giản, gọn nhẹ, việc đổi hàng không ảnh hƣởng đến thông tin kế toán.Tuy nhiên không theo dõi chi tiết số liệu hàng bán bị trả lại, ảnh hƣởng đến quyết định của nhà quản lý.
Sinh viên: Nguyễn Thị Thu Hằng 7 Lớp K21B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại học Hồng Đức + Cách thứ hai, khắc phục nhƣợc điểm của cách thứ nhất, kế toán hạch toán hàng bán bị trả lại đối với hàng lỗi khách hàng bị trả lại.