phần mở đầu, kết luận chuyên đề báo cáo gồm những nội dung chính sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng trong doanh nghiệp thƣơng mại Chƣơng 3: Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thƣơng mại Quang Cƣờng Chƣơng 4: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty TNHH Thƣơng mại Quang Cƣờng Sinh viên: Nguyễn Thùy Trang 5 Lớp: K20B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Bình CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Để kế toán nói chung và kế toán bán hàng và xác định bán hàng nói riêng góp phần làm công cụ hữu ích cho hoạt động quản lý kinh doanh tại công ty thì công ty cần phải hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh theo hƣớng hợp lý và khoa học. Trong những năm gần đây hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế chung của các nền kinh tế thế giới trong đó Việt Nam là một đất nƣớc đang phát triển thì hội nhập kinh tế thế giới vừa là một cơ hội vừa là một thách thức lớn. Điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp trong nƣớc muốn đứng vững cần phải có chiến lƣợc kinh doanh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh khách quan của đất nƣớc, của thế giới, và của bản thân doanh nghiệp.
Bán hàng là khâu cuối cùng, một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó mang tính chất quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về kế toán doanh thu dịch vụ và xác định kết quả kinh doanh nhƣ: * Lại Thị Hòa (2016) với đề tài: “Một số giải pháp góp phần hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty Cổ phần lương thực Thanh Hóa” đã xác định: * Trong nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra các mặt hạn chế trong kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh như: Thứ nhất: Về việc thu hồi các khoản công nợ và chính sách chiết khấu: Hiện nay các khách hàng của công ty chủ yếu thanh toán theo phƣơng thức trả sau (mua chịu), thanh toán sau từ 10-15 ngày kể từ ngày mua hàng, tuy nhiên trên thực tế khách hàng có khi ngoài khoảng thời gian đó vẫn chƣa thanh toán. Điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ tới vòng quay vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty.
Mặt khác đã thực hiện chính sách chiết khấu thƣơng mại cho những khách hàng mua hàng trong từng thời điểm ngày lễ, ngày tết, tuy nhiện lại chƣa có chính sách chiết khấu thanh toán cho những khách Sinh viên: Nguyễn Thùy Trang 6 Lớp: K20B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Bình hàng thanh toán sớm khi mua hàng….từ đó gây ra khó khăn trong việc kích thích hàng thanh toán sớm. Điều này làm ảnh hƣởng không nhỏ tới vốn và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty. - Về mặt nội dung chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp: Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp hiện nay công ty mới chỉ xác định chung cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty chứ chƣa đƣợc phân bổ cho từng hoạt động, do đó chƣa tạo điều kiện để xác định thực lãi – thực lỗ của từng mặt hàng - Công ty là một đơn vị kinh doanh thƣơng mại, để tiến hành kinh doanh thì công ty phải tiến hành mua hàng hóa nhập kho rồi sau đó mới đem đi tiêu thụ. Điều này không tránh khỏi sự giảm giá thƣờng xuyên của hàng trong kho.
Tuy nhiên kế toán công ty lại không trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho. - Trong hệ thống sổ kế toán sử dụng đã bao gồm khá đầy đủ các loại sổ cần thiết cho việc cung cấp thông tin và quản trị nội bộ. Các sổ kế toán tổng hợp à sổ kế toán chi tiết về bán hàng tƣơng đối hoàn chỉnh so với yêu cầu và đặc điểm kinh doanh của công ty. Tuy nhiên công ty chƣa lập sổ chi tiết giá vốn hàng bán và Bảng tổng hợp chi tiết bán hàng.
Thông qua sổ này ta có thể biết đƣợc lãi (lỗ) của từng mặt hàng để có biện pháp và sự can thiệp kịp thời. * Nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại đơn vị như sau: Đối với các khoản công nợ và chính sách chiết khấu: Việc thu hồi công nợ đối với các loại hình doanh nghiệp nói chung và loại hình doanh nghiệp thƣơng mại nói riêng là công việc hết sức cần thiết. Bởi vì, trong doanh nghiệp thƣơng mại, số vốn lƣu động là hàng hóa chiếm một tỷ trong lớn trong tổng vốn kinh doanh (thƣờng là 60 – 80%) nếu doanh nghiệp có số công nợ phải thu quá lớn sẽ dẫn đến thiếu vốn kinh doanh, công ty bị chiếm dụng vốn. Để giải quyết đƣợc vấn đề đó, công ty nên chú trọng hơn nữa đối với các khoản chiết khấu thanh toán và chiết khấu thƣơng mại cho khách hàng nhằm khuyến khíc khách hàng mua hàng trả tiền ngay để đƣợc hƣởng một khoản chiết khấu Sinh viên: Nguyễn Thùy Trang 7 Lớp: K20B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Bình - Công ty cần phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng mặt hàng tiêu thụ để tính chính xác kết quả tiêu thụ của từng mặt hàng từ đó đƣa ra các biện pháp đúng đắn, kịp thời nhằm làm cho kết quả kinh doanh đạt kết quả cao nhất.
- Tham khảo các doanh nghiệp có hệ thống kế toán mạnh, có cùng ngành nghề kinh doanh. Từ đó xác định đƣợc ngành nghề kế toán phù hợp với đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời lƣu ý các vấn đề mà các doanh nghiệp đó gặp phải. - Xác định rõ đối tƣợng cần quản lý từ đó xây dựng thật chi tiết quy trình hạch toán. Quy định rõ loại chứng từ nào để nhập liệu cho từng phần hành kế toán.
Quy trình hạch toán càng chi tiết càng tốt, phải quy định rõ nghiệp vụ này đƣợc hạnh đƣợc hạch toán vào phân hệ nào, đối với trƣờng hợp cụ thể này phải xử lý ta sao, đảm bảo tính nhất quán. Việc tổ chức luân chuyển chứng từ phải đảm bảo tính hợp lý, dễ kiểm tra, đối chiếu giữa các bộ phận kế toán có liên quan - Tổ chức mã hóa các đối tƣợng cần quản lý: Mã hóa là hình thức thể hiện việc phân loại, gắn ký hiệu, xếp lớp các đối tƣợng cần quản lý. Việc mã hóa phải đảm bảo tính thống nhất, phù hợp với chế độ kế toán hiện hành, phần mềm ké toán, phần mềm quản trị dữ liệu. - Công ty cần trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho: Do hình thức kinh doanh thực tế tại công ty nhiều khi phải mua hàng về kho để chuẩn bị cho hoạt động phân phối lƣu thông tiếp theo.
- Công ty nên mở sổ chi tiết giá vốn hàng bán đối với từng mặt hàng và Bảng tổng hợp chi tiết bán hàng. *Trịnh Thị Dƣơng (Năm 2018): “ Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ” * Nghiên cứu đã đƣa ra một số giải pháp hoàn thiện kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại đơn vị nhƣ sau: Thứ nhất: Hoàn thiện công tác kế toán. Sinh viên: Nguyễn Thùy Trang 8 Lớp: K20B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Bình Thƣờng xuyên đối chiếu sổ sách, đối chiếu công nợ để giúp kế toán viên phát hiện kịp thời những sai sót để chấn chỉnh. Công ty nên tổ chức ở phòng kế toán một bộ phận kế toán quản trị để tiến hành cung cấp thông tin cho quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện cũng nhƣ kiểm tra, đánh giá kế hoạch, để nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Chẳng hạn nhƣ thiết lập bộ phận dự toán trong bộ phận kế toán quản trị, bộ phận này sẽ sử dụng thông tin do bộ phận kế toán tài chính cung cấp trên cơ sở đó xây dựng dự toán cho hoạt động kinh doanh. Mặt khác, hoạt động trong cơ chế thị trƣờng hiện nay, khi mà cạnh tranh diễn ra ngày càng gay gắt, quyết liệt thì thông tin đến càng nhanh các vấn đề càng sớm đƣợc giải quyết, do vậy cạnh tranh càng có hiệu quả. Bộ phận kế toán quản trị căn cứ vào các thông tin do bộ phận kế toán tài chính, cũng nhƣ các phòng ban khác: phòng kinh doanh, phòng hậu cần. để chọn lọc, cung cấp những thông tin thích hợp từ đó đƣa ra các phƣơng án sản xuất kinh doanh khác nhau, giúp các nhà quản trị có thể cân nhắc lựa chọn phƣơng án phù hợp, đƣa ra quyết định nhanh chóng, kịp thời.
Điều đó lại càng khẳng định tầm quan trọng của việc tổ chức bộ phận kế toán quản trị trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp. Kiến nghị việc tập hợp các khoản CPBH, CPQLDN, phân bổ các khoản chi phí này đến cho từng hoạt động: Để xác định chính xác đƣợc kết quả tiêu thụ của từng sản phẩm đòi hỏi bộ phận kế toán cần phải tổ chức chi tiết, đồng bộ từ khâu chi phí sản xuất, trị giá vốn hàng xuất bán, doanh thu của từng sản phẩm đến việc phân bổ chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp cho từng hoạt động. Chính vì vậy, CPBH, CPQLDN ở Công ty sau khi tập hợp đƣợc, cần phải đƣợc phân bổ theo tỷ lệ phần trăm doanh thu của từng hoạt động. Đồng thời để thực hiện việc phân bổ CPBH, CPQLDN Công ty nên lập bảng phân bổ CPBH, CPQLDN cho từng loại hình hoạt động.
Mặt khác, mục tiêu hoạt động SXKD của DN là lợi nhuận. Chi phí là phƣơng tiện để đạt đƣợc mục tiêu đó, là nhân tố chủ yếu tác động đến kết quả HĐSXKD. Chính vì vậy, việc sử dụng hợp lý, tiết kiệm và kiểm soát chi phí là Sinh viên: Nguyễn Thùy Trang 9 Lớp: K20B – ĐH Kế toán Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.Nguyễn Thị Bình rất quan trọng. Do đó, CPBH, QLDN cần phải đƣợc theo dõi hạch toán chặt chẽ.
ở mức độ hoạt động bình thƣờng thì chi phí này thƣờng ít thay đổi, nhƣng nếu vƣợt quá mức độ hoạt động này thì CPBH, QLDN sẽ tăng lên đáng kể, điều đó sẽ ảnh hƣởng đến kết quả HĐSXKD của DN.