chương I. Vai trò của phát triển dịch vụ logistics 1. Vai trò của phát triển dịch vụ logistics đối với nền kinh tế quốc dân Logistics là một chuỗi các hoạt động liên tục, có liên hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại lẫn nhau. Nếu xem xét ở góc độ tổng thể, ta thấy dịch vụ logistics là mối liên kết kinh tế xuyên suốt gần như toàn bộ quá trình sản xuất, lưu thông và phân phối hàng hóa.
Một nghiên cứu của trường Đại học quốc gia Michigan (Hoa Kỳ) cho thấy, chỉ riêng hoạt động dịch vụ logistics đã chiếm từ 10 đến 15% GDP của hầu hết các nước lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ và một số nền kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (theo Rushton Oxley & Croucher, (2000)). Vì vậy, nếu nâng cao hiệu quả hoạt động logistics thì sẽ góp phần quan trọng trong nâng cao hiệu quả kinh tế- xã hội. Hiệu quả hoạt động logistics tác động trực tiếp đến khả năng hội nhập của nền kinh tế. Theo nhà kinh tế học người Anh Ullman: “Khối lượng hàng hóa lưu chuyển giữa hai nước tỷ lệ thuận với tỉ số tiềm năng kinh tế của hai nước và tỉ lệ nghịch với khoảng cách của hai nước đó”.
Khoảng cách ở đây được hiểu là khoảng cách kinh tế. Khoảng cách kinh tế càng được rút ngắn thì lượng hàng tiêu thụ trên thị trường càng lớn. Do vậy, việc giảm chi phí của dịch vụ logistics có ý nghĩa rất quan trọng trong chiến lược thúc đẩy xuất khẩu phát triển và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Hoạt động của dịch vụ logistics hiệu quả làm tăng tính cạnh tranh của một quốc gia trên trường quốc tế.
Theo nghiên cứu của Limao và Venables (2001) cho thấy sự khác biệt trong kết cấu hạ tầng chiếm 40% trong sự chênh lệch chi phí với các nước tiếp giáp với biển và 60% với các nước không tiếp giáp với biển. Hơn nữa, trình độ phát triển và chi phí cho dịch vụ logistics của một số quốc gia còn được xem là một căn cứ quan trọng trong chiến lược đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia. Quốc giao nào có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo, hệ thống cảng biển tốt, … sẽ thu hút được đầu tư từ các công ty hay tập đoàn lớn trên thế giới. Sự phát triển vượt bậc của Singapore, Hồng Kông và gần đây là Trung Quốc là một minh chứng sống động cho việc thu hút đầu tư nước ngoài nhằm tăng trưởng xuất khẩu, tăng GDP thông 11 qua việc phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics.
Vai trò của phát triển dịch vụ logistics đối với các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp, dịch vụ logistics đóng góp vai trò rất to lớn. Đây là nguồn động lực cho đổi mới và tăng trưởng kinh tế. Vai trò của phát triển dịch vụ logistics đối với doanh nghiệp được thể hiện: Giúp giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả: Nhờ có thể thay đổi các nguồn tài nguyên đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình chu chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, dịch vụ,… dịch vụ logistics giúp giảm chi phí, tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp thành công lớn nhờ có được chiến lược và sử dụng dịch vụ logistics đúng đắn, ngược lại có không ít doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí thất bại, phá sản do có những quyết định sai lầm trong hoạt động logistics.
Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Doanh nghiệp chủ động trong việc chọn nguồn nguyên liệu, công nghệ sản xuất, thiết kế mẫu mã, tìm kiếm thị trường tiêu thụ thông qua nhiều kênh phân phối khác nhau; Chủ động trong việc lên kế hoạch sản xuất, quản lý hàng tồn kho và giao hàng theo đúng thời gian với tổng chi phí thấp nhất. Góp phần làm giảm chi phí thông qua việc tiêu chuẩn hóa chứng từ: Theo các chuyên gia ngoại thương, giấy tờ rườm rà chiếm một khoản chi phí không nhỏ trong mậu dịch quốc tế và vận chuyển. Thông qua dịch vụ logistics, các công ty logistics sẽ đứng ra đảm nhận việc ký một hợp đồng duy nhất sử dụng chung cho mọi loại hình vận tải để đưa hàng hóa từ nơi gửi hàng đến nơi nhận hàng cuối cùng. Là công cụ hiệu quả để đạt được lợi thế cạnh tranh lâu dài về sự khác biệt hóa và tập trung: thông qua sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) làm gia tăng sự hài lòng và giá trị cung cấp cho khách hàng của dịch vụ logistics.
Hỗ trợ đắc lực cho hoạt động marketing, đặc biệt là marketing hỗn hợp (Mix marketing 4P- Right Product, Right Price, Proper Promotion, Right Place). Dịch vụ logistics đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến, vào đúng thời điểm thích hợp. Sản phẩm/ dịch vụ chỉ được thỏa mãn khách 12 hàng và có giá trị khi và chỉ khi nó đến được với khách hàng đúng thời hạn và đúng địa điểm quy định. Mục tiêu của marketing là tối đa hóa lợi nhuận của công ty về lâu dài.
Còn mục tiêu của logistics là cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách hàng với chi phí nhỏ nhất. Các chi phí cơ bản trong hoạt động logistics được thể hiện qua hình sau: Sản phẩm Giá cả Chiêu thị Vị trí/ Dịch vụ khách hàng Chi phí vận tải Chi phí dự trữ Chi phí quản lý kho Chi phí sản xuất Chi phí giải quyết đơn hàng và thông tin Hình 1.1: Những khoản chi phí cơ bản trong hoạt động Logistics (Nguồn: Giáo trình Logistics và vận tải quốc tế, Đại học Ngoại thương) Tổng chi phí được xác định theo công thức sau: Chi phí vận tải + Chi phí lưu kho, lưu bãi + Chi phí giải quyết đơn Tổng chi phí = hàng và cung cấp thông tin + Chi phí sản xuất + Chi phí lưu trữ Muốn đưa ra quyết định logistics một cách đúng đắn cần cân đối giữa thu và chi nhằm lựa chọn được phương án đáp ứng nhu cầu tốt nhất với tổng chi phí nhỏ nhất. Khái quát chung về nhà cung ứng dịch vụ logistics (Logistics Service Provider- LSP) 1. Khái niệm nhà cung ứng dịch vụ logistics Hiện nay chưa có định nghĩa chung nhất nào về nhà cung ứng dịch vụ logistics.
Ngay cả tại thị trường Việt Nam, tuy có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh và mang tên dịch vụ logistics nhưng doanh nghiệp logistics thực sự lại 13 không nhiều. Tuy vậy, nói một cách đơn giản, nhà cung ứng dịch vụ logistics trọn gói door to door cho hàng hóa xuất nhập khẩu là người tích hợp hàng loạt các dịch vụ vận tải giao nhận, thông quan hàng hóa xuất nhập khẩu thành một chuỗi liên tục để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển door to door. Để có thể thực hiện được những công việc này, trước hết các doanh nghiệp này phải là nhà kinh doanh vận tải đa phương thức. Trong quá trình phát triển, với việc đảm nhận thêm các hoạt động khác như bảo quản, phân phối,… dần dần họ sẽ chuyển hóa thành nhà cung ứng dịch vụ logistics thực sự.
Ngoài ra, một số nhà nghiên cứu trên thế giới có ý kiến cho rằng trên cơ sở phân chia hoạt động của logistics tổng thể (Global logistics) thành logistics quản lý chuỗi cung ứng (Supply Chain Management Logistics), logistics quản lý vận chuyển hàng hóa (Transport Management Logistics) và logistics về quản lý hàng lưu kho, kiểm kê, kho bãi (Warehousing/Inventory Management Logistics), thì chỉ khi nào người làm giao nhận có khả năng điều chỉnh cả một tập hợp các hoạt động của nhiều ngành cùng một lúc và làm tất cả các công việc liên quan đến cung ứng, vận chuyển, theo dõi sản xuất, dịch vụ kho bãi, thủ tục hải quan, phân phối,… mới được nhìn nhận như nhà cung ứng dịch vụ logistics thực sự. Quan điểm này gần như đồng nhất với các ý kiến và khái niệm mà một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam đưa ra. Một trong những ý kiến điển hình được nêu ra bởi luật sư Võ Nhật Thăng trong bài “Dịch vụ giao nhận hàng hóa trong Luật Thương mại” như sau: “Những người không chỉ là làm giao nhận mà còn làm cả các công việc về lưu kho, dán nhãn hiệu, đóng gói bao bì, thuê phương tiện vận chuyển, làm thủ tục hải quan và có thể mua giúp bảo hiểm cho chủ hàng nữa, người này gọi là Logistics Service Provider (Người cung cấp dịch vụ tiếp vận)”. Khái quát hơn có thể tham khảo định nghĩa của TSKH.
Nguyễn Văn Chương, nguyên Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Phát triển giao thông vận tải: “Nhà cung cấp dịch vụ logistics là một bên tham gia vào quá trình sản xuất và lưu thông cung các tổ chức nhà nước (Government), các chủ hàng (Shipper), các nhà sản xuất, kinh doanh (business), người tiêu dùng hình thành dây chuyền cung ứng tổng hợp (The intergrated supply chain process)”. Về khía cạnh văn bản pháp luật, Luật Thương mại Việt Nam 2005- Điều 234 14 có nêu: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật”. Như vậy, nhà cung ứng dịch vụ logistics phải là thương nhân và kinh doanh có điều kiện. Theo dự thảo lần thứ ba của nghị định quy định chi tiết Luật Thương mại thì điều kiện kinh doanh dịch vụ là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh phù hợp theo quy định của pháp luật Việt Nam và có số vốn pháp định là 10 tỷ đồng, đáp ứng điều kiện kinh doanh nếu pháp luật có quy định cho mỗi loại dịch vụ cụ thể.
Cũng trong văn bản Nghị định số 140/2007/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, người kinh doanh dịch vụ logistics được chia theo hai trường hợp: Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nói chung và Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ logistics. Cụ thể: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc là thương nhân tổ chức thực hiện dịch vụ lô-gi-stíc cho khách hàng bằng cách tự mình thực hiện hoặc thuê lại thương nhân khác thực hiện một hoặc nhiều công đoạn của dịch vụ đó” và “Thương nhân nước ngoài kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc là thương nhân thuộc các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam có cam kết trong các điều ước quốc tế về mở cửa thị trường kinh doanh dịch vụ lô-gi-stíc”. Trên phạm vi Việt Nam, đây có thể coi là một chuẩn mực để định nghĩa thế nào là một nhà cung ứng dịch vụ logistics. Sau này, Nghị định số 140/2007/NĐ-CP được thay thế bởi Nghị định số 163/2017/NĐ-CP quy định về kinh doanh dịch vụ logistics, được Chính phủ ban hành ngày 30/12/2017 và có hiệu lực từ ngày 20/02/2018.