Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mở ra nhiều cơ hội phát triển nhưng đồng thời tạo ra áp lực lớn về giải quyết việc làm và giảm tỷ lệ thất nghiệp. Thanh niên là lực lượng nòng cốt, nhạy bén và có tiềm năng to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, tình trạng gia tăng dân số cơ học và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đang tạo ra sức ép gay gắt lên thị trường lao động, đặc biệt đối với lực lượng thanh niên vừa rời ghế nhà trường hoặc gia nhập thị trường lao động lần đầu. Xuất phát từ tầm quan trọng chiến lược của vấn đề này và yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước, đề tài "Giải pháp hoàn thiện chính sách việc làm cho thanh niên" được thực hiện bởi sinh viên Bùi Đức Nguyên (lớp Kinh tế phát triển 42) dưới sự hướng dẫn chuyên môn của thầy giáo Phạm Ngọc Linh và sự hỗ trợ tư liệu từ Trung tâm Dân số và Việc làm thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (tháng 5/2004 tại Hà Nội).
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm hai nhiệm vụ trọng tâm:
- Hệ thống hóa và làm rõ một số cơ sở lý luận cho việc hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường.
- Đề xuất hệ thống phương hướng, mục tiêu và các nhóm giải pháp đồng bộ nhằm góp phần hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho thanh niên Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề việc làm, thị trường lao động và chính sách việc làm dành cho thanh niên. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào thực trạng thị trường lao động thanh niên tại Việt Nam giai đoạn 2000–2004, có liên hệ và định hướng đến các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2005–2010.
Kết cấu của công trình bao gồm phần mở đầu, kết luận và 3 phần nội dung chính:
- Phần I: Thị trường lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên
- Phần II: Đánh giá khả năng gia nhập thị trường lao động của thanh niên Việt Nam
- Phần III: Một số giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên Việt Nam
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Văn bản xây dựng hệ thống khung lý thuyết dựa trên các quan điểm chỉ đạo của Đảng, hệ thống pháp luật của Nhà nước và các chỉ số kinh tế lao động căn bản:
- Cơ sở pháp lý và định hướng chiến lược: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2010; Bộ luật Lao động năm 1994 (quy định: "Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm"); các Nghị quyết của Đảng (Đại hội IV, Đại hội V, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 04/07/1985 của Bộ Chính trị, Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 của Hội nghị TW 4 khóa VII, Nghị quyết Đại hội VIII và Kết luận Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành TW Đảng khóa IX).
- Hệ thống khái niệm và chỉ tiêu lao động:
- Việc làm: Phân hóa thành việc làm đầy đủ và việc làm hợp lý; việc làm ổn định (thực hiện từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng trước điều tra hoặc dưới 6 tháng nhưng tiếp tục làm việc) và việc làm tạm thời (dưới 6 tháng trong 12 tháng hoặc thất nghiệp dưới 1 tháng tại thời điểm điều tra); việc làm chính và việc làm phụ.
- Nguồn lao động ($N$): Xác định theo công thức $N = K + Q$, trong đó $K$ là số người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 tuổi); $Q$ là số người ngoài độ tuổi quy đổi (trên độ tuổi lấy tỷ lệ 2 người tính 1 người; từ 13 đến 15 tuổi lấy tỷ lệ 3 người tính 1 người).
- Lực lượng lao động ($LF$): $LF = E + U$, trong đó $E$ là số người có việc làm (Employment) và $U$ là số người thất nghiệp (Unemployment).
- Tỷ lệ thất nghiệp ($UR$): Xác định bằng công thức $UR = \frac{U}{LF} = \frac{U}{E + U}$.
- Phân loại thất nghiệp: Thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ; thất nghiệp hoàn toàn, thất nghiệp bộ phận; thất nghiệp tự nguyện và thất nghiệp không tự nguyện; thiếu việc làm (vô hình và hữu hình).
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm: phương pháp phân tích - tổng hợp lý luận, phương pháp thống kê mô tả, phân tích số liệu thứ cấp từ các cơ quan quản lý và phương pháp điều tra xã hội học định lượng về xu hướng chọn nghề của học sinh lớp 9, học sinh lớp 12, sinh viên đại học/cao đẳng và lao động trẻ dưới 30 tuổi.
Nguồn dữ liệu được trích xuất từ Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Thanh niên, Trung tâm Thông tin và Nghiên cứu Chính sách Thanh niên, Trung tâm Dân số và Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Thị trường lao động và sự lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên
Nội dung phần này tập trung làm rõ bản chất của thị trường lao động, các quan điểm có tính nguyên tắc về giải quyết việc làm và kết quả khảo sát xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của các nhóm thanh thiếu niên.
Tác giả khái quát 6 quan điểm giải quyết việc làm trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:
- Giải quyết việc làm phải gắn kết hữu cơ giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, chú trọng phát triển sản xuất kỹ thuật công nghệ tầng cao kết hợp tận dụng công nghệ sử dụng nhiều lao động tầng thấp; giải quyết việc làm bắt đầu từ địa bàn nông thôn (nơi chiếm hơn 70% lao động xã hội).
- Giải phóng triệt để tiềm năng lao động thông qua phát triển kinh tế nhiều thành phần, tôn trọng quyền tự do tạo việc làm, tự do liên doanh liên kết, xóa bỏ bao cấp và tâm lý ỷ lại vào Nhà nước.
- Phối hợp đồng bộ giữa các cấp, các ngành, đoàn thể và toàn xã hội; Nhà nước giữ vai trò định hướng chiến lược và hỗ trợ các điều kiện nền tảng ("bà đỡ" về vốn, hạ tầng, thông tin, đào tạo nghề).
- Nhận thức việc làm ổn định chỉ mang tính tương đối; việc làm chịu sự chi phối của quy luật cung - cầu và giá cả sức lao động.
- Chống thất nghiệp là vấn đề toàn cầu; xác lập quan hệ lao động minh bạch thông qua hợp đồng lao động; hỗ trợ thanh niên bằng cách tạo sinh kế bền vững ("trao cần câu thay vì cho con cá").
- Giải quyết việc làm là cốt lõi của ổn định, an toàn và công bằng xã hội, là nhân tố đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững.
Khảo sát thực nghiệm về định hướng và lựa chọn nghề nghiệp mang lại các phát hiện cụ thể:
- Đối với sinh viên đại học, cao đẳng: Đại đa số lựa chọn các ngành như Quản trị kinh doanh, Giáo dục, Khoa học kỹ thuật. Quyết định ngành nghề chịu ảnh hưởng lớn nhất từ bản thân và gia đình. Về nơi làm việc sau tốt nghiệp, đa phần mong muốn vào khu vực kinh tế nhà nước (hành chính sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước), tỷ lệ chọn khu vực liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài thấp hơn, và rất ít sinh viên mong muốn làm việc tại khu vực kinh tế tư nhân. Xu hướng địa điểm làm việc tập trung cao ở các đô thị lớn, tỷ lệ muốn về nông thôn rất thấp. Hoạt động làm thêm của sinh viên chủ yếu nhằm mục đích kinh tế để trang trải học phí, phần lớn không trùng khớp với ngành đào tạo.
- Đối với học sinh phổ thông (Lớp 9 và Lớp 12):
- Học sinh lớp 9: Hướng vào các nghề truyền thống (giáo viên, bác sĩ, dược sĩ, bộ đội, công an). Cơ cấu ngành nghề lựa chọn tập trung vào khối kỹ thuật (46,3%), ngành chế tạo, chế biến, dệt may (36,8%). Có 75,6% học sinh lựa chọn cơ sở học nghề của Nhà nước, trong khi cơ sở tư nhân chỉ chiếm 24,4%. Về địa điểm học nghề, 63,4% muốn học trong tỉnh, 14,6% học tại huyện/địa phương, rất ít em muốn học xa nhà.
- Học sinh lớp 12: Có 90% học sinh dự định thi vào đại học, cao đẳng; tỷ lệ dự kiến học nghề chỉ chiếm 6,2%; đi làm ngay chiếm 2,2% và không có dự định đi học là 0,6%. Nhóm ngành được chọn nhiều nhất gồm giáo viên, quản lý xã hội, kỹ thuật và kinh doanh; nhóm ngành ít được quan tâm là luật, khoa học xã hội và nghệ thuật.
- Lý do học lên đại học, cao đẳng của học sinh lớp 12: Tự đánh giá năng lực phù hợp chiếm 68,4%; theo nguyện vọng gia đình chiếm 13,6%; dễ kiếm việc làm chiếm 7,8%; có thu nhập cao chiếm 7,1%; được xã hội coi trọng hơn học nghề chiếm 2,4%; thoát ly nông nghiệp chiếm 0,7%. Cơ sở học nghề dự kiến hướng tới cơ sở nhà nước (85%), liên doanh (10%) và tư nhân (5%).
- Đối với lao động dưới 30 tuổi đang tìm việc/đang làm việc: Gần 50% lực lượng lao động trẻ trong mẫu khảo sát rơi vào tình trạng chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm. Nhu cầu lớn nhất là tìm kiếm việc làm ổn định, sau đó mới đến thu nhập. Xu hướng dịch chuyển lao động tập trung vào khu vực đô thị gây dư thừa nhân lực tại thành thị và thiếu hụt tại nông thôn.
| Tiêu chí so sánh định hướng |
Nhóm học sinh lớp 9 |
Nhóm học sinh lớp 12 |
| Tỷ lệ chọn học lên ĐH/CĐ |
Tỷ lệ thấp hơn (nhiều em muốn học nghề/vào THPT) |
90,0% |
| Tỷ lệ dự định học nghề |
Chiếm tỷ trọng đáng kể |
6,2% |
| Tỷ lệ chọn đi làm ngay |
Xuất hiện ở nhóm học lực yếu/gia cảnh nghèo |
2,2% (không đi học: 0,6%) |
| Ngành nghề ưu tiên |
Kỹ thuật (46,3%), chế tạo/dệt may (36,8%), công an, bộ đội |
Giáo viên, quản lý xã hội, kỹ thuật, kinh doanh |
| Loại hình cơ sở dạy nghề lựa chọn |
Nhà nước (75,6%), Tư nhân (24,4%) |
Nhà nước (85,0%), Liên doanh (10,0%), Tư nhân (5,0%) |
| Địa bàn học tập mong muốn |
Trong tỉnh (63,4%), tại địa phương/huyện (14,6%) |
Trong tỉnh (55,0%), tại địa phương (30,0%), tỉnh khác (15,0%) |
Phần II: Đánh giá khả năng gia nhập thị trường lao động của thanh niên Việt Nam
Nội dung phân tích thực trạng cung - cầu, quy mô dân số và những rào cản chất lượng của nguồn nhân lực trẻ khi bước vào thị trường lao động.
Quy mô và áp lực dân số thanh niên:
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê và Trung tâm Thông tin và Nghiên cứu Chính sách Thanh niên, nguồn nhân lực thanh niên gia tăng nhanh chóng:
- Hàng năm giai đoạn 2000–2004 có bình quân khoảng 1,7 triệu người bước vào độ tuổi thanh niên. Dự báo giai đoạn 2005–2010 con số này đạt từ 1,8 đến 1,9 triệu người mỗi năm.
- Tỷ lệ thanh niên (15–29 tuổi) trong cơ cấu dân số tăng từ 30,1% (năm 2000) lên 30,46% (năm 2004). Quy mô thanh niên năm 2009 ước tính tăng 9,4% so với năm 2000.
- Ước tính toàn quốc có hơn 9 triệu người chưa có việc làm hoặc thiếu việc làm, trong đó thanh niên chiếm khoảng 80%. Trong tổng số hơn 2,5 triệu người hoàn toàn không có việc làm, thanh niên chiếm trên 70%. Tỷ lệ phạm pháp hình sự ở người không có việc làm mà đối tượng là thanh niên chiếm 72,5%.
| Chỉ tiêu thống kê (Đơn vị: Nghìn người) |
Năm 2000 |
Năm 2005 (Dự báo/Kế hoạch) |
| Tổng số dân |
80.230,2 |
- |
| Tổng số lao động xã hội |
44.938,5 |
- |
| Tổng số thanh niên (15–29 tuổi) |
24.002,6 |
- |
| Tổng số thanh, thiếu niên tuổi đến trường |
33.993,7 |
- |
| - Trong đó: Nam |
16.142,2 |
- |
Cơ cấu phân bổ và chất lượng nguồn lao động:
Phân tích thực trạng phân bổ lao động theo ngành và khu vực cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng:
- Lao động ngành nông, lâm nghiệp chiếm tới 73% tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước (riêng khu vực nông thôn chiếm tới 86%).
- Lao động ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 13% (khu vực thành thị là 33%, nông thôn chỉ đạt 8,3%).
- Lao động khu vực dịch vụ chiếm 16,4% (khu vực thành thị chiếm 54,9%, nông thôn đạt 8,6%).
- Lao động làm công việc trí óc chỉ chiếm 8,5% trên tổng số lao động (khu vực thành thị chiếm 70%, nông thôn chỉ đạt 9,5%).
Chính sách ưu đãi và chỉ tiêu đào tạo phát triển giáo dục:
Văn bản rà soát các định hướng lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là các chỉ tiêu cụ thể trong Nghị quyết Hội nghị TW 6 khóa IX:
- Tăng tỷ lệ ngân sách chi cho giáo dục - đào tạo lên 15% tổng chi ngân sách năm 2000.
- Tỷ lệ huy động trẻ đúng độ tuổi vào tiểu học: 95% (năm 2000), 97% (năm 2005), 99% (năm 2010); 100% trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia vào năm 2010.
- Tỷ lệ học sinh THCS trong độ tuổi: 74% (năm 2000), 80% (năm 2005), 90% (năm 2010). Tỷ lệ học sinh THPT: 38% (năm 2000), 48% (năm 2005).
- Tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân: 118 người (năm 2001), 140 người (năm 2005), 200 người (năm 2010).
- Quy mô đào tạo sau đại học: Thạc sĩ tăng từ 1.127 người (năm 2000) lên 19.000 người (năm 2005) và 39.000 người (năm 2010); Tiến sĩ/NCS tăng từ 3.870 người (năm 2000) lên 7.500 người (năm 2005) và 15.000 người (năm 2010).
- Phân luồng học sinh vào trường dạy nghề: Sau THCS đạt 6% (năm 2000), 10% (năm 2005), 15% (năm 2010); sau THPT/THCN vào dạy nghề bậc cao đạt 7% (năm 2005) và 20% (năm 2010).
- Đến năm 2005, mỗi quận/huyện phấn đấu có một trung tâm dạy nghề/hướng nghiệp kỹ thuật tổng hợp; 100% trường đại học có thư viện điện tử vào năm 2010.
Phần III: Một số giải pháp giải quyết việc làm cho thanh niên Việt Nam
Dựa trên các phân tích lý luận và đánh giá thực trạng, phần này xác lập các định hướng giải pháp mang tính chiến lược và trước mắt:
- Đẩy mạnh phân luồng và định hướng nghề nghiệp: Đổi mới công tác tuyên truyền nhằm thay đổi tâm lý chuộng bằng cấp, định kiến coi trọng đại học hơn học nghề của phụ huynh và học sinh; mở rộng mạng lưới các trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề cấp huyện.
- Phát triển kinh tế nông nghiệp - nông thôn: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, khôi phục làng nghề truyền thống và mở rộng tiểu thủ công nghiệp để giải quyết việc làm tại chỗ cho 86% lao động nông thôn.
- Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tín dụng: Thiết lập và mở rộng các quỹ tín dụng ưu đãi cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn học tập và thanh niên vay vốn lập nghiệp, tự tạo việc làm.
- Khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài: Xây dựng khung pháp lý thông thoáng, bảo đảm quyền lợi bình đẳng cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, giảm bớt áp lực xin việc vào khu vực nhà nước.
- Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên: Tăng cường tổ chức các phong trào thanh niên tình nguyện, công trình thanh niên, hỗ trợ phổ cập nghề và kết nối thông tin thị trường lao động thông qua các sàn giao dịch, hội chợ việc làm.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường lao động thanh niên: Xác lập khung khái niệm việc làm, thất nghiệp và các công thức tính toán nguồn nhân lực phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam.
- Cung cấp bức tranh thực trạng về định hướng nghề nghiệp: Khảo sát chi tiết tâm lý, động cơ chọn trường, chọn nghề và khu vực làm việc của 4 nhóm đối tượng (lớp 9, lớp 12, sinh viên, lao động trẻ dưới 30 tuổi), chỉ rõ thực trạng tâm lý nặng về bằng cấp và chuộng khu vực kinh tế nhà nước.
- Phân tích cơ cấu nhân khẩu học và phân bổ lao động: Tổng hợp các số liệu thực tế về phân bố lao động giữa nông thôn - thành thị, chỉ ra nút thắt tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm tới 73% trong khi lao động công nghiệp (13%) và dịch vụ (16,4%) còn ở mức thấp.
- Đề xuất hệ thống giải pháp gắn với các chỉ tiêu giáo dục: Kết nối mục tiêu giải quyết việc làm với các chỉ tiêu cụ thể về phổ cập giáo dục, đào tạo nghề và đào tạo sau đại học theo các Nghị quyết của Đảng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về dữ liệu và thời gian: Đề tài là bản thảo chuyên đề thực tập tốt nghiệp đại học, được thực hiện trong thời gian giới hạn năm 2004 nên nguồn dữ liệu khảo sát và thống kê chủ yếu dừng ở giai đoạn 2000–2004, một số bảng biểu chỉ tiêu dự báo đến năm 2005 chưa được kiểm chứng bằng số liệu thực tế sau năm 2005.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả thực tế của việc triển khai các trung tâm dạy nghề cấp quận/huyện sau năm 2005; nghiên cứu sâu hơn về tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và các hiệp định thương mại đối với việc làm của lao động thanh niên nông thôn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Sinh viên, giảng viên và học viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Kinh tế lao động, Xã hội học và các cán bộ phụ trách công tác thanh niên, lao động - thương binh và xã hội.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Phần phân tích lý luận và các công thức phân lớp nguồn lao động ($N = K + Q$, $LF = E + U$, $UR$).
- Số liệu khảo sát thực nghiệm về sự khác biệt trong định hướng chọn nghề giữa học sinh lớp 9 và học sinh lớp 12.
- Hệ thống chỉ tiêu phát triển giáo dục - đào tạo và phân luồng dạy nghề đến năm 2010 theo Nghị quyết TW 6 khóa IX.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm việc làm được xác định như thế nào theo Bộ luật Lao động 1994 trong khóa luận?
Theo Bộ luật Lao động 1994 được trích dẫn trong tài liệu: "Mọi hoạt động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm". Việc làm gồm 3 đặc điểm: là hoạt động của con người, không bị pháp luật ngăn cấm và tạo ra thu nhập.
2. Công thức xác định nguồn lao động ($N$) trong đề tài được tính toán ra sao?
Nguồn lao động được tính bằng công thức $N = K + Q$, trong đó $K$ là số người trong độ tuổi có khả năng làm việc (nam 15–60 tuổi, nữ 15–55 tuổi); $Q$ là số người ngoài độ tuổi tính quy đổi (trên độ tuổi lao động lấy tỷ lệ 2 người tính 1 người; từ 13–15 tuổi lấy tỷ lệ 3 người tính 1 người).
3. Tỷ lệ phân bố lao động giữa các ngành kinh tế tại thời điểm nghiên cứu có đặc điểm gì?
Lao động ngành nông, lâm nghiệp chiếm tỷ trọng áp đảo với 73% (khu vực nông thôn chiếm 86%); ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 13% (thành thị 33%, nông thôn 8,3%); ngành dịch vụ chiếm 16,4% (thành thị 54,9%, nông thôn 8,6%); lao động làm công việc trí óc chiếm 8,5% (thành thị 70%, nông thôn 9,5%).
4. Khảo sát học sinh lớp 12 cho thấy lý do chủ yếu nào khiến các em muốn học lên đại học, cao đẳng?
Lý do lớn nhất là học sinh tự đánh giá năng lực phù hợp với bậc học này (chiếm 68,4%); tiếp theo là phù hợp với mong muốn của gia đình (13,6%); dễ kiếm việc làm (7,8%); có thu nhập cao (7,1%); được xã hội coi trọng hơn học nghề (2,4%) và có điều kiện thoát ly nông nghiệp (0,7%).
5. Mục tiêu nâng cao tỷ lệ sinh viên và đào tạo sau đại học đến năm 2010 theo Nghị quyết TW 6 khóa IX là bao nhiêu?
Nâng tỷ lệ sinh viên trên một vạn dân từ 118 người (năm 2001) lên 140 người (năm 2005) và 200 người (năm 2010); đào tạo thạc sĩ đạt 19.000 người (năm 2005) và 39.000 người (năm 2010); nghiên cứu sinh/tiến sĩ đạt 7.500 người (năm 2005) và 15.000 người (năm 2010).
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Bùi Đức Nguyên đã phản ánh toàn diện bức tranh lý luận và thực trạng thị trường lao động thanh niên Việt Nam đầu thập niên 2000. Bằng việc kết hợp các chỉ số kinh tế vĩ mô với số liệu khảo sát xã hội học về định hướng nghề nghiệp của học sinh và sinh viên, công trình đã làm nổi bật những bất cập trong phân bổ lao động nông thôn - thành thị và tâm lý chuộng đại học. Hệ thống giải pháp được đề xuất gắn liền với định hướng phát triển giáo dục, đào tạo nghề và hoàn thiện chính sách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tài liệu là nguồn tư liệu học thuật có giá trị tham khảo tốt cho việc nghiên cứu chính sách lao động, việc làm và thanh niên.