Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp đổi mới quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Hưng Yên. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Các khái niệm Có nhiều lý luận liên quan tới quản lý nhiệm vụ KH&CN.
Tuy nhiên tại chương này chỉ đề cập tới những nội dung trực tiếp là cơ sở cho các phân tích ở chương sau của báo cáo kết quả nghiên cứu. Đây là những lý thuyết cơ bản như: Các khái niệm về Khoa học, công nghệ, quản lý nhà nước về KH&CN, nhiệm vụ KH&CN; xác định, tuyển chọn nhiệm vụ KH&CN, quản lý, đánh giá nghiệm thu và tuyên truyền, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Khái niệm về Khoa học và Công nghệ 1. Khái niệm về khoa học Theo Luật KH&CN năm 2013 “Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy” [12, tr.
Những quan niệm trên cho thấy, bản chất của khoa học là hệ thống tri thức mang tính quy luật. Nó có vai trò đặc biệt quan trọng: nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên, phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội. Trong luận văn này, tác giả thống nhất sử dụng khái niệm Khoa học theo tinh thần của Luật KH&CN năm 2013 của Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Khái niệm về công nghệ Luật KH&CN năm 2013: Công nghệ [12, tr.1], là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có k m theo hoặc không k m theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm.
Theo quan điểm này, công nghệ 10 bao gồm phần cứng (công cụ, phương tiện…) và phần mềm (kỹ năng, bí quyết, kinh nghiệm…). C ng cần lưu ý thêm, công nghệ là tập hợp chứ không phải tổng số, nguồn lực bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực. Sản phẩm của công nghệ có thể dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, vật thể hoặc phi vật thể. Khái niệm về nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Nhiệm vụ KH&CN là những vấn đề KH&CN cần được giải quyết để đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển KH&CN.
Nhiệm vụ KH&CN có thể được thể hiện dưới hình thức Đề tài KH&CN, Đề án KH&CN, Dự án khoa học, Dự án sản xuất thử nghiệm, Chương trình KH&CN. - Đề tài KH&CN [11, tr.2], là nhiệm vụ KH&CN có nội dung chủ yếu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn, bao gồm đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. - Đề án khoa học [11, tr.2], là nhiệm vụ KH&CN nhằm mục tiêu xác định cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật. - Dự án sản xuất thử nghiệm [11, tr.3], là nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm để thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.
- Dự án KH&CN [11, tr.3], là nhiệm vụ KH&CN giải quyết các vấn đề KH&CN chủ yếu phục vụ việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một 11 ngành, một lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được triển khai dưới hình thức đề tài KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm và dự án đầu tư KH&CN có mục tiêu, nội dung gắn kết hữu cơ, đồng bộ và được tiến hành trong một thời gian nhất định. - Chương trình KH&CN [11, tr.3], là nhiệm vụ KH&CN có mục tiêu chung giải quyết các vấn đề KH&CN phục vụ phát triển và ứng dụng KH&CN trung hạn hoặc dài hạn được triển khai dưới hình thức tập hợp các đề tài KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN. - Đặt hàng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ [11, tr.2], là việc bên đặt hàng đưa ra yêu cầu về sản phẩm khoa học và công nghệ, cung cấp kinh phí để tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ tạo ra sản phẩm khoa học và công nghệ thông qua hợp đồng. Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước cấp tỉnh là nhiệm vụ KH&CN đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Có tầm quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi tỉnh; - Giải quyết các vấn đề KH&CN trong phạm vi tỉnh; - Có sử dụng nguồn kinh phí sự nghiệp KH&CN của tỉnh.
Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ, bao gồm: - Chương trình KH&CN cấp tỉnh; - Đề án khoa học cấp tỉnh; - Đề tài KH&CN cấp tỉnh; - Dự án sản xuất thử nghiệm cấp tỉnh; - Dự án KH&CN cấp tỉnh; - Đề tài KH&CN, dự án KH&CN tiềm năng cấp tỉnh. Cơ sở lý luận trong quản lý nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Công tác quản lý nhiệm vụ KH&CN bắt đầu từ khâu xác định các tên, nội dung, mục tiêu nhiệm vụ; và trong quá trình triển khai thực hiện là xác định cụ thể tên, nội dung, mục tiêu các nhiệm vụ; tuyển chọn người thực hiện hoặc giao trực tiếp các nhiệm vụ KH&CN; cơ chế, chế độ đảm bảo tài chính thực hiện nhiệm vụ; đánh giá, kiểm tra tiến độ thực hiện; đánh giá nghiệm thu và sau nghiệm thu các nhiệm vụ KH&CN. Các nguyên tắc chung trong quá trình quản lý nhiệm vụ KH&CN được thực hiện trong thực tiễn quản lý hoạt động KH&CN tầm quốc gia và địa phương theo Luật KH&CN quy định và các yêu cầu phát triển của tỉnh. Cụ thể là: - Tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh: Trong cơ chế thị trường và phải khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân phát huy khả năng sáng tạo trong nghiên cứu khoa học trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa những người tham gia thực hiện nhiệm vụ KH&CN.
- Cơ chế quản lý KH&CN phải phục vụ cho phát triển KT-XH và phải đảm bảo an ninh quốc phòng của địa phương. - Đảm bảo sự đồng bộ giữa cơ chế quản lý KH&CN cơ chế quản lý KT-XH. Cơ chế quản lý phải phù hợp với tình hình thực tiễn. - Lấy chất lượng KH&CN và hiệu quả KT-XH làm tiêu chuẩn chủ yếu để đánh giá nhiệm vụ KH&CN.
- Thực hiện phân cấp quản lý KH&CN, phân định rõ cho từng cấp quản lý và phân biệt giữa nhiệm vụ thường xuyên của quản lý Nhà nước và nhiệm vụ KH&CN. Xác định nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ Cơ quan chủ quản về KH&CN tổ chức xác định nhiệm vụ thông qua việc lấy ý kiến đề xuất các nhiệm vụ KH&CN của các tổ chức, cá nhân các 13 nhà khoa học, các nhà sản xuất cần thực hiện trong kế hoạch 5 năm và hằng năm. Việc đề xuất và xác định các nhiệm vụ KH&CN phải căn cứ vào: - Chiến lược, quy hoạch phát triển KH&CN; các hướng KH&CN ưu tiên; các nhiệm vụ KH&CN chủ yếu của cơ quan quản lý KH&CN đã công bố. - Việc xác định một nhiệm vụ KH&CN cần phải xuất phát từ việc tìm kiếm, chọn lọc những vấn đề cần giải quyết trong đời sống, sản xuất.
Phải xuất phát từ yêu cầu giải quyết những vấn đề cấp thiết của đất nước, của tỉnh, của mỗi địa phương. Kết quả của đề tài, dự án sản xuất thử nghiệm phải có khả năng ứng dụng được vào thực tiễn sản xuất và đời sống. - Căn cứ theo các đề xuất tự do của các tổ chức, cá nhân. - Việc xác định, lựa chọn nhiệm vụ KH&CN thông thường được thực hiện thông qua hình thức các Hội đồng KH&CN (gồm các nhà khoa học, nhà quản lý và nhà hoạt động thực tiến SXKD,…) tư vấn xác định nhiệm vụ.
Tuyển chọn nhiệm vụ Với mục đích là tìm ra tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN có đủ các phẩm chất phù hợp về năng lực, quyết tâm và cam kết. Cần chú ý một số vấn đề sau: - Hệ thống tiêu chí, thang điểm đánh giá tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN - Phương thức tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN - Thành phần đánh giá tuyển chọn tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN. Ký hợp đồng, quản lý trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ Sau khi xác định và tuyển chọn được tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ KH&CN, tiến hành thực hiện theo các bước sau: 14 - Phê duyệt kế hoạch KH&CN tỉnh: Căn cứ vào các đề xuất, kết quả tuyển chọn, Sở KH&CN tiến hành lập kế hoạch KH&CN tỉnh trình UBND tỉnh xem xét, phê duyệt. - Thương thảo và ký kết hợp đồng: Nhiệm vụ sau khi được tuyển chọn hoặc giao trực tiếp được thực hiện thông qua hợp đồng KH&CN giữa cơ quan quản lý KH&CN với người thực hiện nhiệm vụ KH&CN.
Hợp đồng KH&CN phải lập thành văn bản và được thực hiện trên cơ sở tự nguyện thoả thuận, bình đẳng, đúng pháp luật. - Kiểm tra, giám sát thực hiện: Sau khi ký kết hợp đồng nghiên cứu KH&CN, cơ quan quản lý về KH&CN các cấp theo thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra định kỳ và đánh giá thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước về nội dung khoa học, tiến độ thực hiện và việc sử dụng kinh phí. Trong trường hợp cần thiết có thể điều chỉnh nội dung nghiên cứu cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, hoặc chấm dứt việc thực hiện nhiệm vụ đó. Nghiệm thu, tổng kết nhiệm vụ Khi nhiệm vụ KH&CN kết thúc, Cơ quan quản lý KH&CN thành lập Hội đồng đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước.