Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. Các khái niệm, định nghĩa công cụ 1. Khái niệm Khoa học và công nghệ Có rất nhiều khái niệm về Khoa học và Công nghệ. Nhưng ở luận văn này, tác giả chỉ đề cập đến một số khái niệm về Khoa học và Công nghệ như sau: - Theo Luật khoa học và công nghệ của Việt nam (2013), khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy.
- Theo Từ điển Giáo dục, Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người nhằm tạo ra và hệ thống hóa những tri thức khách quan về thực tiễn, là một trong những hình thái ý thức xã hội bao gồm cả hoạt động để thu hái kiến thức mới lẫn cả kết quả của hoạt động ấy, tức là toàn bộ những tri thức khách quan làm nên nền tảng của một bức tranh về thế giới. Từ khoa học cũng còn dùng để chỉ những lĩnh vực tri thức chuyên ngành. Những mục đích trực tiếp của khoa học là miêu tả, giải thích và dự báo các quá trình và các hiện tượng của thực tiễn dựa trên cơ sở những quy luật mà nó khám phá được. - Sheldon (1997) cho rằng khoa học là một hoạt động trí tuệ được thực hiện bởi con người, được thiết kế để khám phá cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật - hiện tượng.
- Công nghệ: theo ESCAP, Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin; các thành phần công nghệ gồm các yếu tố: Kỹ thuật (Technoware), Con người (Humanware), Thông tin (Inforware) và Tổ chức (Organware). - Theo Bộ Luật dân sự và Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam (2017), công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Hoạt động KH&CN (NC&TK, Dịch vụ KH&CN) Hoạt động KH &CN (Science and Technology Acitivities) là một thuật ngữ được dùng trong thiêt kế chính sách của UNESCO bao gồm: hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) và hoạt động dịch vụ KH&CN (H 1. Hoạt động NC&TK theo khái niệm của UNESCO, NC&TK (Research and Development) NCCB NCƯD Triển khai sản xuất (Fundamental (Applied (Technological (Production) Research) Research) Experimental Development) Dịch vụ KH&CN (Science and Technology Services) Nguồn: [3, 23] 1.
Nghiên cứu và triển khai (R&D- Research and Development) Năm 1980, UNESCO định nghĩa NC&TK (R&D) là tập hợp các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức gồm các kiến thức liên quan đến con người, tự nhiên và xã hội và nhằm sử dụng kiên thức đó để tạo ra những áp dụng mới. Trong khi nghiên cứu khoa học (R) được định nghĩa là tập hợp toàn bộ các hoạt động có hệ thống và sáng tạo nhằm phát triển kho tàng kiến thức khoa học và áp dụng chúng vào thực tiễn thì triển khai (D) được cho là một công việc có hệ thống nhằm vận dụng các kiến thức nghiên cứu khoa học đã đạt được hoặc kinh nghiệm thực tiễn nhằm sản xuất ra sản phẩm mới, công nghệ mới, phương pháp tiến hành mới, hệ thống dịch vụ mới và nhằm cơ bản hoàn thiện những gì đã hoặc đang sử dụng/sản xuất [23]. UNESCO phân hoạt động NC&TK thành các bước như sau: Ở bước Nghiên cứu bao gồm hai bước con: NCCB và NCƯD, trong đó NCCB lại chia thành NCCB thuần túy và NCCB định hướng. Sau bước Nghiên cứu là bước Triển khai.
Quá trình “Triển khai” bao gồm 3 giai đoạn: tạo vật mẫu, tạo quy trình để tạo công nghệ - sản xuất thử loạt 0 hay làm “Sêri 0”. 8 Các giai đoạn của NC&TK là sự kế thừa lẫn nhau và các dòng tri thức chảy theo các chiều mũi tên từ trên xuống dưới (H 1. Phân loại hoạt động NC&TK theo các giai đoạn Nguồn: [3] 1. Nghiên cứu cơ bản (FR - Fundamental Research) NCCB là những nghiên cứu nhằm tìm ra các thuộc tính, cấu trúc, động thái của các đối tượng nghiên cứu, các sự vật và hiện tuợng.
Kêt qủa của NCCB có thể là những phân tích lý luận, những kết luận về quy luật, định luật, định lý,.Trên cơ sở đó, hình thành nên các phát hiện, phát minh và các hệ thống lý thuyết mới. NCCB đuợc chia thành hai loại: - NCCB thuần túy: còn gọi là NCCB tự do hay NCCB không định hướng, là những nghiên cứu tìm hiểu về bản chất sự vật và quy luật của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhằm nâng cao nhận thức, tri thức mà chưa có hoặc chưa bàn đến bất kỳ một ý nghĩa ứng dụng nào. Loại hình nghiên cứu này, nhìn chung mang đậm dấu ấn cá nhân của nhà nghiên cứu. - NCCB định hướng: còn gọi là nghiên cứu thăm dò, là những NCCB đã dự kiến mục đích ứng dụng.
NCCB định hướng lại được chia thành: Nghiên cứu nền tảng và Nghiên cứu chuyên đề 1. Nghiên cứu ứng dụng (AR - Applied Research) NCƯD là sự vận dụng các lý thuyết, quy luật thu được từ trong NCCB, tức là dựa trên cơ sở các kết quả, sản phẩm của NCCB, để đưa ra những mô tả, giải thích, dự báo hoặc những nguyên lý về các giải pháp (giải pháp được hiểu 9 theo nghĩa rộng nhất của thuật ngữ này, có thể là các giải pháp về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, giải pháp về xã hội, quản lý, tổ chức,. NCƯD cũng có thể là nghiên cứu để áp dụng các kết quả nghiên cứu đã thành công ở một môi trường nhất định, vào trong một môi trường mới của sự vật, hiện tượng. Kết quả của NCƯD có thể là một hệ thống tri thức về nhận dạng trạng thái của sự vật, hiện tượng trong hiện tại và tương lai.
Cũng có thể là một hệ thống tri thức về giải thích nguyên nhân, nguồn gốc, động thái, cấu trúc, tương tác, hậu quả, quy luật chung chi phối sự vật, hiện tượng. Sản phẩm của NCƯD cũng có thể là một giải pháp mới có tính nguyên lý về công nghệ, vật liệu, sản phẩm, về xã hội, tổ chức và quản lý. Trong đó, một sản phẩm đặc biệt của NCƯD là các nguyên lý công nghệ. Mặc dù gọi như vậy, nhưng kết quả của NCƯD vẫn chưa thể ứng dụng được ngay mà còn phải trải qua một giai đoạn nữa, giai đoạn này gọi là triển khai mới có thể đưa chúng vào sử dụng trong thực tế.
Triển khai thực nghiệm (D -Exprimental Development) Triển khai hay còn gọi là triển khai thực nghiệm công nghệ là hoạt động vận dụng các quy luật (kết qủa của NCCB) và các nguyên lý, giải pháp (kết qủa của NCƯD) để tạo ra vật mẫu và công nghệ sản xuất vật mẫu với các tham số kỹ thuật khả thi. Triển khai bao gồm ba giai đoạn: - Tạo ra vật mẫu: là giai đoạn thực nghiệm nhằm tạo ra được sản phẩm mẫu hay còn gọi là vật mẫu chức năng (Functional Prototype), mà chưa quan tâm đến quy trình sản xuất ra vật mẫu và quy mô áp dụng vật mẫu đó. - Tạo quy trình, công nghệ: là giai đoạn tìm kiếm, thử nghiệm (bán sản xuất) và tạo ra công nghệ để sản xuất sản phẩm theo mẫu mới vừa thành công ở giai đoạn trước. - Sản xuât thử loạt đầu: là giai đoạn kiểm chứng độ tin cậy của công nghệ trên quy mô nhỏ hay làm thí điểm, trong thực tế còn được gọi là sản xuất bán đại trà hay bán công nghiệp.
Theo lý thuyết, kết quả nghiến cứu sau giai đoạn triển khai sẽ được 10 chuyển giao vào sản xuất thông qua CGCN. Tuy nhiên, thực tế có thể do doanh nghiệp chưa sẵn sàng tiếp nhận, cũng có thể do tổ chức NC&TK còn muốn giữ lại làm bí quyết hoặc muốn tiếp tục hoàn thiện công nghệ,. Dịch vụ KH&CN (STS-Science and Technology Services) Dịch vụ khoa học và công nghệ là hoạt động phục vụ, hỗ trợ kỹ thuật cho việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, an toàn bức xạ, hạt nhân và năng lượng nguyên tử; dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội. Nhiệm vụ KH&CN (đề tài, đề án, dự án KH&CN) Nhiệm vụ KH&CN là công việc KH&CN được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án, nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng của tổ chức khoa học và công nghệ và các hình thức khác [7].
Các nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định được tổ chức dưới hình thức chương trình, đề tài, dự án và các hình thức khác. Hai hình thức nhiệm vụ KH&CN có sử dụng ngân sách nhà nước thường hay được sử dụng nhất, kể cả các nhiệm vụ KH&CN thuộc chương trình KH&CN là đề tài và dự án sản xuất thử nghiệm. Nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở do cơ quan có thẩm quyền quyết định, được quy định tại Điều 27 của Luật KH&CN 2013. Nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh phải thực hiện theo hình thức đặt hàng hoặc tuyển chọn.
Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để mọi tổ chức, cá nhân đề xuất ý tưởng khoa học để hình thành nhiệm vụ KH&CN của nhà nước. Trong đó, Chính phủ quy định tiêu chí xác định nhiệm vụ KH&CN các cấp phù hợp với từng giai đoạn phát triển và lĩnh vực KH&CN. Nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được đề ra phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: 11 - Có tầm quan trọng đối với phát triển KH-XH, quốc phòng, an ninh trong phạm vi cả nước; và nâng cao tiềm lực KH&CN quốc gia; - Giải quyết các vấn đề KH&CN liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, liên vùng; - Phải huy động nguồn lực quốc gia, có thể có sự tham gia của nhiều ngành KH&CN. Nhiệm vụ KH&CN cấp bộ cần phải đáp ứng các tiêu chí sau đây: - Có tầm quan trọng đối với sự phát triển của ngành, lĩnh vực; - Giải quyết các vấn đề KH&CN trong phạm vi ngành, lĩnh vực; - Có sử dụng kinh phí sự nghiệp KH&CN của Bộ, ngành.