phần mở đầu, 4 chương nội dung, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Cụ thể, bốn chương nội dung của luận án là: Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Nêu tổng quan khoa học của vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan, từ đó rút ra những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu. Cơ sở lý luận và thực tiễn cải cách hành chính trong quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an Chương này tập trung phân tích và làm rõ các cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm các khái niệm công cụ và các vấn đề có liên quan đến đối tượng và nội dung CCHC trong QLNN về KH&CN.
Đánh giá thực trạng CCHC trong QLNN về KH&CN nói chung và ở Bộ Công an nói riêng; phân tích những bất cập, khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Từ đó làm cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp CCHC trong QLNN về KH&CN ở chương 3. Giải pháp cải cách hành chính trong quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ ở Bộ Công an 6 Từ cơ sở lý luận và thực tiễn, chương này tập trung đề xuất và phân tích làm rõ các giải pháp CCHC trong QLNN về KH&CN ở Bộ Công an. Kiểm tra kết quả nghiên cứu và bàn luận Trình bày các phương pháp kiểm tra để khẳng định tính đúng đắn của kết quả nghiên cứu, và bàn luận về một số vấn đề có liên quan.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các mô hình và xu hƣớng cải cách hành chính trong quản lý nhà nƣớc về khoa học và công nghệ trên thế giới Các quốc gia trên thế giới, dù thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quy mô về lãnh thổ và dân số, truyền thống có khác nhau, nhưng đều coi hoạt động KH&CN là một nhiệm vụ quan trọng và việc QLNN về hoạt động KH&CN là cần thiết trong quá trình phát triển kinh tế. Mỗi quốc gia đều tự tìm cho mình một mô hình quản lý, phương pháp quản lý và một hình thức tổ chức cơ quan QLNN về KH&CN thích hợp cho từng giai đoạn phát triển. Phương thức điều hành và mức độ điều hành của Chính phủ các nước đối với hoạt động KH&CN có sự khác nhau.
Sự khác nhau này tập trung phản ánh ở chỗ phân phối nguồn lực KH&CN của Chính phủ, ở cơ cấu hệ thống hành chính chi phối quá trình tổ chức hoạt động R&D và hình thành thị trường KH&CN. Theo tài liệu của Nguyễn Sỹ Lộc [56], hiện nay, trên thế giới tồn tại các mô hình thể chế quản lý KH&CN khác nhau. Sự khác nhau đó được thể hiện trên cơ sở hai quan điểm cơ bản: một quan điểm cho rằng QLNN về KH&CN về cơ bản là phải kiểm soát các hoạt động đó; quan điểm khác cho rằng QLNN về KH&CN về cơ bản là việc hướng dẫn, hỗ trợ và khuyến khích, còn các hoạt động cụ thể cần giao quyền tự chủ cho các chủ thể hoạt động KH&CN. Trên cơ sở hai quan điểm cơ bản này, kết hợp với những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của từng quốc gia, có thể thấy một số mô hình cơ bản thể hiện xu thế CCHC trong QLNN về KH&CN như sau: 1.
Mô hình quản lý khoa học và công nghệ tập trung cao độ Mô hình này là sản phẩm của chế độ kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Mô hình này được thực thi gần như ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (cũ), trong đó Liên Xô là điển hình nhất. Nhà nước tập trung cao độ việc phân phối 8 nguồn lực và quản lý hoạt động KH&CN, các bộ ngành chỉ phụ trách việc thực thi những chính sách đã ban hành hoặc những hạng mục nghiên cứu đã được duyệt từ một cơ quan trung ương. Việc bố trí các hạng mục cho các đơn vị R&D thực hiện trong khuôn khổ kế hoạch nhà nước; các hạng mục ưu tiên nghiên cứu, triển khai của các cơ quan đều phải thống nhất với mục tiêu kế hoạch 5 năm của Nhà nước.
Biểu hiện chủ yếu của đặc điểm quản lý KH&CN loại tập trung cao độ, kiểu của Liên Xô, là: - Có cơ cấu chuyên trách quản lý KH&CN cấp Nhà nước để soạn thảo chính sách và điều hành hoạt động KH&CN trong phạm vi cả nước; - Quy hoạch và kế hoạch phát triển KH&CN của Nhà nước mang tính pháp lệnh là căn cứ chủ yếu để các cơ quan KH&CN trong toàn quốc sắp xếp và triển khai công việc; - Nguồn kinh phí KH&CN chủ yếu là ngân sách dự toán Nhà nước, vốn phát triển KH&CN và vốn vay ngân hàng của cơ quan và xí nghiệp. Nguồn ngân sách dự toán nhà nước chủ yếu dùng cho nghiên cứu cơ bản và các hạng mục nghiên cứu liên ngành quan trọng ở tầm quốc gia. Quản lý KH&CN chủ yếu tiến hành theo quan hệ trực thuộc hành chính. Các cơ quan nghiên cứu khoa học và các xí nghiệp đều có cơ quan chủ quản cấp trên của mình, điều này dẫn đến sự tách biệt nghiêm trọng giữa nghiên cứu khoa học và sản xuất, việc hình thành các quan hệ theo chiều ngang thường gặp nhiều khó khăn.
Lợi thế của mô hình quản lý KH&CN tập trung là ở chỗ: Những chính sách KH&CN của Chính phủ được đảm bảo điều phối thống nhất, dễ dàng, trong việc xác định mục tiêu, điều động mọi nguồn lực để giải quyết những vấn đề KH &CN then chốt mang tính toàn cục. Việc hoạch định và xác định kinh phí của kế hoạch phát triển KH&CN, có thể đảm bảo chắc chắn tính ổn định và tính liên tục của các hạng mục R&D trong kỳ kế hoạch. 9 Điều hạn chế trong thể chế KH&CN tập trung là sự can thiệp cứng nhắc mang tính hành chính toàn diện đối với hoạt động KH&CN, không thể tránh khỏi sự hạn chế tính tự chủ trong hoạt động KH&CN. Kế hoạch nghiên cứu khoa học và kế hoạch sản xuất khó có thể phối hợp do những cách biệt của hệ thống hành chính, gây nên sự tách rời giữa thành quả nghiên cứu, triển khai với việc ứng dụng chúng vào sản xuất và hạn chế hiệu quả kinh tế của hoạt động KH&CN.
Mô hình quản lý khoa học và công nghệ phân tán đa nguyên Điển hình của mô hình này là thể chế của Mỹ có Văn phòng Chính sách KH&CN trực thuộc Tổng thống, chỉ phụ trách tư vấn các công việc có liên quan KH&CN, đề xuất phương hướng KH&CN và tiến hành một số hoạt động mang tính điều phối. Việc hoạch định và thực thi chính sách KH&CN sẽ do các bộ độc lập tiến hành. Quỹ khoa học Quốc gia quản lý việc thẩm định, cấp phát kinh phí cho các dự án về nghiên cứu cơ bản và giáo dục cao đẳng, nó không chịu sự chi phối về mặt hành chính của Chính phủ Liên bang. Đặc điểm của mô hình phân tán đa nguyên biểu hiện ở chỗ: - Trong cấp lãnh đạo tối cao không có cơ quan quản lý thống nhất toàn quốc, chính sách KH&CN do các cơ quan của chính phủ phân cấp hoạch định, trong toàn quốc không có kế hoạch và quy hoạch phát triển KH&CN thống nhất, chỉ có những hạng mục nghiên cứu quan trọng hoặc kế hoạch chiến lược được tổ chức thực thi thông qua các biện pháp khác nhau của Chính phủ Liên bang.
- Tác dụng chủ đạo trong lĩnh vực KH&CN của Chính phủ là gia tăng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua áp dụng những biện pháp kinh tế và ban hành pháp luật hoặc khuyến khích, hướng dẫn, hoặc khống chế, điều hoà. - Các Bộ trong Chính phủ có chế độ quản lý, lập kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, thường có sự quản lý riêng tương ứng đối với nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai. 10 - Công ty công nghiệp tư nhân là người đảm trách chính công tác nghiên cứu triển khai. Đầu tư cơ bản cho nghiên cứu khoa học của các doanh nghiệp thường chiếm một nửa tổng ngạch đầu tư cho nghiên cứu khoa học toàn quốc, còn kinh phí nghiên cứu khoa học được sử dụng chiếm khoảng 70% tổng kinh phí toàn quốc.
Sự phân tán đa nguyên của thể chế KH&CN của Mỹ, chủ yếu được biểu hiện ở chỗ không có quan hệ trực thuộc hành chính theo thứ bậc rõ ràng. Ưu tiên của thể chế này là các cơ quan có thể hình thành phương thức quản lý và chính sách KH&CN với đặc thù riêng của mình, lợi dụng cơ chế thị trường để thúc đẩy ứng dụng các thành tựu của nghiên cứu khoa học. Một số quốc gia như Anh, Thuỵ Điển, Đan Mạch, v. cũng không có cơ quan quản lý thống nhất KH&CN cấp Nhà nước.3 Mô hình quản lý khoa học và công nghệ tập trung điều tiết hài hoà Mô hình KH&CN tập trung điều tiết hài hoà là loại thể chế kết hợp giữa tập trung và phân tán, đa số các nước công nghiệp phát triển thuộc loại này trong đó điển hình nhất là Pháp và Nhật Bản.
Thể chế tập trung của nước Pháp biểu hiện ở chỗ nhà nước lập kế hoạch nghiên cứu và phát triển KH&CN mang tính chất toàn quốc, kế hoạch ấy thích hợp với phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, còn soạn thảo và ban hành pháp luật KH&CN. Những văn kiện mang tính cương lĩnh chỉ đạo hoạt động KH&CN toàn quốc này là các hình thức pháp quy, quy định một loạt phương châm, chính sách quan trọng như tỷ lệ kinh phí nghiên cứu khoa học trong giá trị tổng sản phẩm quốc dân, suất tăng trưởng hằng năm của kinh phí nghiên cứu khoa học, suất tăng trưởng của cán bộ nghiên cứu khoa học và quan hệ cân bằng giữa nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng với nghiên cứu triển khai. Trong mô hình quản lý KH&CN của Nhật Bản, ngoài cơ quan chủ quản, còn có cơ quan tư vấn thẩm xét KH&CN tương ứng từ Phủ Thủ tướng 11 đến các tỉnh và cơ quan nghiên cứu.
Chúng có tác dụng rà soát cân nhắc những giải pháp chính sách, hoạch định dự toán và kế hoạch, chọn lựa và đánh giá đề tài đối với các cấp quản lý. Mô hình tập trung kết hợp phân tán kiểu hỗn hợp Đây là mô hình tương đối đặc trưng cho các nước công nghiệp mới và một số các nước đang phát triển, mang nhiều tính chất thực dụng. Đặc điểm của mô hình này là: - Kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố thị trường đặc trưng và can thiệp rất sâu của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế. - Các nguyên tắc và cách tổ chức quản lý luôn được điều chỉnh tuỳ theo tình hình thực tế.