CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY THEO KET QUÁ NHIỆM VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI CÁC VIỆN NGHIÊN CỨU CÔNG LẬP TRONG XU HƯỚNG TỰ CHỦ 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khoa học Theo UNESCO, khoa học là “hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động cua vật chat, những quy luật của tự nhiên, xã hội và tu duy” [27].
Hệ thống tri thức trong định nghĩa trên đây là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học, trong trường hợp nảy, được hiểu là hệ thống tĩnh tại của tri thức, xem khoa học như một sản phẩm trí tuệ được tích lũy trong hoạt động tim toi, sáng tạo của nhân loại. Công nghệ Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguôn lực thành sản phẩm [48]. Theo định nghĩa này, công nghệ gồm cả phần mềm (giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật) và phần cứng (công cụ, phương tiện); và chức năng chính của công nghệ là biến nguồn lực thành sản phẩm.
Hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học la sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thé giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người [2S]. Chức năng của NCKH là tìm ra tri thức mới giúp giải thích thế giới và tạo ra công cụ mới giúp cải biên thê giới. Hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D) Hoạt động R&D là các hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách có hệ thống để tăng cường vốn tri thức, gồm cả tri thức về con người, văn hoá, xã hội và sử dụng vốn tri thức này dé tìm ra các ứng dụng mới [27]. Hoạt động R&D bao gồm: - Nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu thực nghiệm hoặc lý thuyết nhằm có được kiến thức mới về bản chất của những hiện tượng và hiện thực có thê quan sát được, mà không nhằm bắt cứ mục đích ứng dụng cụ thé nào.
- Nghiên cứu ứng dụng là hoạt động điều tra ban đầu nhằm có được những kiến thức mới, nó chủ yếu được hướng tới một hoặc một số mục tiêu ứng dụng cụ thê. - Triển khai là hoạt động có tính hệ thống, dựa trên những kiến thức thu được từ hoạt động nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tiễn, để bổ sung thêm những kiến thức mới, nhằm hướng tới việc tạo ra những sản phẩm hay quy trình mới hoặc cải tiễn những sản pham và quy trình đã có. Mỗi quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu trong hoạt động R&D được khái quát như sau: Nghiên cứu cơ bản thuân tuý NGHIÊN CỨU CƠ BẢN Nghiên cứu nên tảng Nghiên cứu cơ bản định hướng Nghiên cứu NGHIÊN CỨU chuyên đê Tạo vật mẫu (prototype) TRIEN KHAI Tao quy trinh san xuat vat mau (pilot) Sản xuất thử (Serie 0) Hình 1. Mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu 17 1.
Nhiệm vụ khoa học và công nghệ Nhiệm vụ KH&CN là những vấn đề khoa học và công nghệ cần được giải quyết dé đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển khoa học và công nghệ [48]. Theo Nghị định số 08/2014/NĐ-CP của Chính phủ, nhiệm vụ KH&CN bao gom [17]: - Dé tài KH&CN là nhiệm vụ KH&CN có nội dung chủ yếu là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiéu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn, bao gồm đề tài nghiên cứu cơ bản, đề tài nghiên cứu ứng dụng, đề tài triển khai thực nghiệm hoặc kết hợp nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm. - Đề án khoa học là nhiệm vụ KH&CN nhằm mục tiêu xác định cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ việc xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật. - Dự án sản xuất thử nghiệm là nhiệm vụ KH&CN nhằm ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai thực nghiệm dé thử nghiệm các giải pháp, phương pháp, mô hình quản lý kinh tế - xã hội hoặc sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phâm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống.
- Dự án khoa học là nhiệm vụ KH&CN giải quyết các van đề KH&CN chủ yếu phục vụ việc sản xuất một sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm trọng điểm, chủ lực có tác động nâng cao trình độ công nghệ của một ngành, một lĩnh vực và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của dất nước, được triển khai dưới hình thức đề tài KH&CN, dự án sản xuất thử nghiệm và dự án đầu tư KH&CN có mục tiêu, nội dung gan kết hữu co, đồng bộ và được tiến hành trong một thời gian nhất định. - Chương trình KH&CN là nhiệm vụ KH&CN có mục tiêu chung giải quyết các van dé KH&CN phục vụ phát triển và ứng dụng KH&CN trung hạn 18 hoặc dài hạn được triển khai đưới hình thức tập hợp các đề tài KH&CN, dự an sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN. - Nhiệm vụ KH&CN tiềm năng là đề tài KH&CN, dự án KH&CN tập trung nghiên cứu giải quyết những vấn đề KH&CN đòi hỏi tính ứng dụng cao và có triển vọng tạo ra, phát triển hướng nghiên cứu mới hoặc sản phẩm mới thuộc lĩnh vực KH&CN ưu tiên, trọng điểm quốc gia. - Nhiệm vụ KH&CN đặc biệt là đề tài KH&CN, đề án khoa học, dự án sản xuất thử nghiệm, dự án KH&CN có quy mô lớn phục vụ quốc phòng, an ninh, có tác động mạnh đến sản xuất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm quốc gia do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định.
- Nhiệm vụ khoa học theo nghị định thu là dé tài KH&CN, dự án KH&CN hop tác xây dựng, tô chức thực hiện và đóng góp kinh phí giữ các tổ chức KH&CN Việt Nam với các đối tác nước ngoài theo thỏa thuận bằng văn bản của các cơ quan có thâm quyền của Việt Nam và cơ quan có thâm quyền cua nước ngoài. - Nhiệm vụ nghiên cứu theo chức năng là nhiệm vụ KH&CN nham bao đảm hoạt động nghiên cứu thường xuyên của các tổ chức KH&CN, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ quy định trong điều lệ tổ chức và hoạt động hoặc văn bản của cơ quan có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm vụ của tổ chức KH&CN. Quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ - Quản lý là một hoạt động thực tiễn đặc biệt của con người, trong đó các chủ thê tác động lên các đối tượng bằng các công cụ và phương pháp khác nhau, thông qua qui trình quản lý nhất định, nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường [43]. - Quản lý nhiệm vụ KH&CN là hoạt động của cơ quan quan lý nhằm thực hiện quá trình: tuyển chọn, giao trực tiếp, kiểm tra thực hiện, đánh giá kết quả, nghiệm thu kết qua, đăng ký kết quả, phổ biến kết quả, lưu trữ kết 19 quả, chuyên giao kết quả và giải quyết các van đề khác có liên quan tới nhiệm vụ KH&CN theo các văn bản quy phạm pháp luật và hợp đồng nghiên cứu.
Nhận thức đúng về bản chất của quản lý nhiệm vụ KH&CN là cơ sở quan trọng, quyết định đến hiệu quả của công tác quản lý nói riêng và chất lượng của hoạt động KH&CN nói chung. Tổ chức khoa học và công nghệ - Tổ chức KH&CN là tô chức có chức năng chủ yếu như sau: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ KH&CN, được thành lập và đăng ký hoạt động theo các quy định của pháp luật [17]. Nhu vậy, t6 chức KH&CN thực hiện các chức năng liên quan tới các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và dịch vụ KH&CN. Các chức năng này được thực hiện theo các nhiệm vụ cụ thể mà mỗi loại hình tổ chức đăng ký và hoạt động theo quy định trong các quy chế hoặc điều lệ riêng do cấp có thầm quyền phê duyệt.
Theo hình thức sở hữu, tổ chức KH&CN gồm tổ chức KH&CN công lập, tổ chức KH&CN ngoài công lập, tổ chức KH&CN có vốn nước ngoài. - Tổ chức KH&CN công lập là t6 chức KH&CN thuộc sở hữu hoặc phụ thuộc phan lớn vào nguôn tài trợ từ Chính phủ cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai của họ. Các tô chức như vậy gồm 02 loại chính: trường đại học và các trung tâm/viện nghiên cứu/khu công nghệ cao công lập [17]. - Viện nghiên cứu công lập là một thành phần của tổ chức KH&CN công lập có nhiệm vụ chủ yếu là tập trung vào nghiên cứu, sáng tạo và chuyên giao các tri thức, công nghệ mới.
Tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập Theo Nghị định số 54/2016/NĐ-CP của Chính phủ, tu chủ của tổ chức KH&CN công lập bao gồm quyền tự chủ về tài chính, thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự, quản lý và sử dụng tài sản. 20 Như vậy, hiện nay, các viện nghiên cứu công lập đang triển khai thực hiện Nghị định này và các văn bản điều chỉnh, hướng dẫn Nghị định này. Quản lý theo kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ Trong các tài liệu tiếng Anh, quản lý theo kết qua được thé hiện qua nhiều cụm từ khác nhau như: Outcome management, Outcome based management; Results-oriented managenment, Results-based management; Performance management, Performance-based management. Luan van nay dich các cụm từ trên ra tiếng Việt là “quản lý theo kết quả” va thống nhất sử dụng trong toàn văn bản.
- Quản lý theo kết quả là phương thức nhà quản lý xác định các kết quả cụ thê, rõ ràng và dài hạn cần đạt được từ một hoạt động; qua đó định hướng các nguồn lực tập trung cho hoạt động đề đạt được kết quả [36]. - Quản lý theo kết quả nhiệm vụ KH&CN là việc nhà quản lý xác định các kết quả cụ thể, rõ ràng và dài hạn cần đạt được từ nhiệm vụ KH&CN; qua đó định hướng các nguồn lực tập trung cho nhiệm vụ KH&CN để đạt được kết quả. Như vậy, việc quản lý theo kết quả nhiệm vụ KH&CN bao gồm tat cả các hoạt động trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KH&CN, bắt đầu từ lập kế hoạch, triển khai thực hiện, cho đến khi đánh giá, nghiệm thu kết quả, chuyển giao công nghệ từ sản phẩm của nhiệm vụ KH&CN.