Chương 1: Cơ sở lý luận về đổi mới xây dựng chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Chương 2: Phân tích thực trạng chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH dịch vụ Địa Ốc Vàng Chương 3: Phương hướng, giải pháp đổi mới chiến lược kinh doanh của Công ty TNHH dịch vụ Địa Ốc Vàng 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XÂY DỰNG CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về môi giới bất động sản 1. Một số khái niệm liên quan - Bất động sản Thuật ngữ BĐS và động sản đã được ghi nhận và sử dụng rộng rãi trong hầu hết các bộ luật theo hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Tại Mỹ, Anh, Singapore, Thái Lan, Malaysia… Để một tài sản được coi là BĐS phải hội tụ bốn điều kiện sau: 1- Là một yếu tố vật chất có ích cho con người; 2- Được chiếm giữ bởi cá nhân, tổ chức hoặc cộng đồng; 3- Có thể đo lường bằng giá trị nhất định; 4- Không thể di dời hoặc di dời hạn chế và tồn tại lâu dài.
Điều 174 Bộ Luật Dân sự đã xác định khái niệm BĐS như sau: “BĐS là các tài sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn nền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.” - Môi giới bất động sản Môi giới là hoạt động của người thứ ba với mục đích tạo sự thông cảm, thấu hiểu về các vấn đề liên quan giữa các bên với nhau, hoặc việc giải quyết những công việc nào đó liên quan giữa hai bên, người môi giới lúc này đóng vai trò là cầu nối. Ngoài ra hoạt động môi giới có thể được xác định như một công việc để tạo thu nhập thông qua các thương vụ giữa các bên với nhau. Hoạt động môi giới là hoạt giữa 2 bên để tạo ra thu nhập cho cả hai. Vai trò của hoạt động môi giới bất động sản Với tư cách là bên trung gian cho hai bên thực hiện các giao dịch liên quan đến BĐS thì môi giới BĐS hay nói đúng hơn là nhà môi giới BĐS có 4 những vai trò cơ bản: Thu thập, cung cấp các thông tin bất động sản và các thông tin liên quan khác: Các thông tin về BĐS và các thông tin liên quan khác rất quan trọng trong việc giao dịch và các quyền lợi trong BĐS.
Trước tiên khi nhà môi giới BĐS là phải thu thập các thông tin và các thông tin liên quan thật đầy đủ và chính xác về BĐS đó. Nội dung thông tin về BĐS bao gồm: - Loại BĐS và vị trí BĐS. - Thông tin về quy hoạch có liên quan đến BĐS. - Quy mô, diện tích của BĐS.
- Các đặc điểm, các lợi thế của BĐS. - Các vấn đề thực trạng, các dịch vụ, các kĩ thuật liên quan đến BĐS - Các giấy tờ, tình trạng pháp lý và các hồ sơ liên quan trong việc sở hữu BĐS. - Các hạn chế về quyền sở hữu, quyền sử dụng BĐS (nếu có). - Giá bán, chuyển nhượng, thuê, cho thuê, thuê mua BĐS.
- Quyền và lợi ích của người thứ ba có liên quan. - Các thông tin khác liên quan đến BĐS. Nhà môi giới có nhiệm vụ phải công khai các thông tin chính xác đầy đủ cho khách hàng về BĐS đó. Nếu thông tin sai sự thật sau khi sở hữu thì sẽ xem như vi phạm pháp luật.
Tư vấn cho khách hàng: Đối với số đông người dân VN thì sự hiểu biết của họ về BĐS, TTBĐS là rất ít. Nhiều người không am hiểu về BĐS nên khi người ta có nhu cầu thì những thủ tục pháp lý không biết gì. Chính vì vậy, nhà môi giới BĐS hải có sự tư vấn cho cả hai bên, bên cung BĐS và bên cầu BĐS. Đặc biệt là sự tư vấn cần thiết cho bên cầu BĐS.
Nhà môi giới BĐS tư vấn tất cả các vấn đề như giá cả, vị trí BĐS, kiến 5 trúc của BĐS sao cho phù hợp với điều kiện thoả mãn được nhu cầu của bên cầu BĐS. Chẳng hạn như việc giới thiệu những ngôi nhà riêng mà một vị khách hàng A đang có nhu cầu mua. Làm cầu nối giữa cung và cầu BĐS: Nhà môi giới BĐS thu thập được những thông tin BĐS từ bên cung và nắm bắt được những nhu cầu từ phía cầu. Nhưng công việc của nhà môi giới BĐS không đơn giản chỉ là tìm cầu đến gặp cung là hết nhiệm vụ mà quan trọng hơn là chính họ phải giúp đỡ cho cả hai bên thực hiện được giao dịch.
Đặc biệt thì BĐS thường có giá trị lớn, liên quan đến pháp lý nên trên thực tế rất nhiều chủ thể (cụ thể là các cá nhân) tham gia vào TTBĐS nhưng không có nhiều sự am hiểu vể BĐS và TTBĐS. Làm tăng số lượng giao dịch BĐS trên thị trường: Từ những nhu cầu của người mua và công việc của các nhà môi giới khiến mối quan hệ giữa cung và cầu gặp nhau. Bằng những thông tin thu thập và cung cấp đến khiến người mua đưa ra quyết định. Mở kênh thị trường công khai, minh bạch về BĐS giúp thị trường BĐS hoạt động ổn định: Một nhà môi giới BĐS chuyên nghiệp phải có trách nhiệm cao trong công việc của mình, đặc biệt là đạo đức nghề nghiệp phải được đặt lên hàng đầu.
Chính vì vậy, những thông tin mà khách hàng nhận được từ nhà môi giới BĐS phải là thông tin đầy đủ, chính xác và được công khai, minh bạch. Điều này sẽ là động lực cho TTBĐS phát triển ổn định, lành mạnh và hiệu quả. Bởi khi TTBĐS công khai, minh bạch sẽ là cơ sở quan trọng giúp cho việc thực hiện các giao dịch hợp pháp, hạn chế được rất nhiều lượng giao dịch “ngầm” trên thị trường. Như vậy, vai trò cung cấp thông tin về BĐS một cách công khai, minh bạch từ nhà môi giới BĐS là vô cùng quan trọng, giúp cho TTBĐS phát triển lành mạnh, hiệu quả và phát huy được vai trò to lớn đối với sự phát triển nền kinh tế quốc dân.
6 Hoàn thiện trong việc quản lý của nhà nước và quản lý TTBĐS: Chính hoạt động của các công ty kinh doanh BĐS và người môi giới BĐS là yếu tố góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý hoạt động quản lý Nhà nước đối với BĐS, hoạt động kinh doanh BĐS cũng như với TTBĐS. TTBĐS rất phức tạp nếu không có những pháp lý, sẽ dẫn đến những mối hiểm hoạ rất lớn trên thị trường BĐS. Khái quát về chiến lƣợc kinh doanh 1. Khái niệm chiến lược kinh doanh Một số quan điểm về chiến lược kinh doanh như sau: Theo MichaeLậporter (1996, tạp chí Havard - What is Strategy ?), “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ ” Dù tiếp cận theo cách nào hay nhiều quan điểm khác nhau ra sao thì bản chất của một chiến lược kinh doanh vẫn chính là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp, nên ở đây chúng ta có thể hiểu theo ý nghĩa phổ biến và truyền thống nhất là : Xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn cho doanh nghiệp Tập hợp đưa ra các chương trình hoạt động cho từng thời kỳ Chiến lược kinh doanh (CLKD) của doanh nghiệp bao gồm: Mục tiêu và phương hướng của DN logistics đảm bảo cho DN phát triển vững chắc trong một thời kỳ dài (từ 5 năm đến 10 năm trở lên).
Một người sở hữu doanh nghiệp được quyền thay đổi các chính sách cơ bản như trong lĩnh vực kinh doanh, các mặt hàng, mở rộng thị trường và thu hút khách hàng. Các hành động và điều kiện đều được thực hiện theo trình tự đã đề ra 1. Phân loại chiến lược kinh doanh Theo phạm vi tác động của chiến lược kinh doanh có thể chia thành chiến lược chung (tổng quát) và chiến lược các yếu tố hợp thành. Chiến lƣợc chung (tổng quát) đề cập đến những vấn đề quan trọng, 7 bao trùm nhất, có ý nghĩa lâu dài, quyết định sự sống còn của DN như phương hướng kinh doanh, chủng loại hàng hóa- dịch vụ được lựa chọn kinh doanh, thị trường tiêu thụ, các mục tiêu tài chính và các chỉ tiêu tăng trưởng của DN trong tương lai.
Chiến lƣợc các yếu tố, các bộ phận hợp thành bao gồm: - Chiến lược mặt hàng và dịch vụ kinh doanh: Chiến lược này chỉ rõ DN lựa chọn những mặt hàng, dịch vụ nào để kinh doanh theo đúng nhu cầu thị trường. Chiến lược quan trọng nhất đối với doanh nghiệp là chiến lược này. - Chiến lược thị trường và khách hàng: đây là chiến lược nhằm đánh thẳng trọng tâm nhằm đáp ứng được nhu cầu thị trường thu hút được mọi khách hàng đến với doanh nghiệp. - Chiến lược vốn kinh doanh: xác định nhu cầu số vốn kinh doanh cần có cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- Chiến lược cạnh tranh: chiến lược cạnh tranh là động lực để phát triển kinh doanh của doanh nghiệp. - Chiến lược marketing hỗn hợp: bao gồm chiến lược sản phẩm, chiến lược giá cả, phân phối, giao tiếp và khuyếch trương. - Chiến lược phòng ngừa rủi ro trên thị trường quốc tế: trên cơ sở nghiên cứu toàn diện bối cảnh môi trường kinh doanh quốc tế. - Chiến lược con người: để thực hiện tốt các chiến lược đề ra doanh nghiệp cần phải có chiến lược toàn diện về con người – yếu tố tiềm năng quan trọng nhất của doanh nghiệp.
Theo cách thức tiếp cận có thể chia thành: - Chiến lƣợc các nhân tố then chốt tập trung các nguồn lực quan trọng thực hiện vào hoạt kinh doanh trong doanh nghiệp. - Chiến lƣợc lợi thế so sánh nhằm phát huy ưu thế các điểm mạnh yếu của doanh nghiệp đối với các đối thủ cạnh tranh. - Chiến lƣợc sáng tạo tiến công phát huy các kỹ thuật công nghệ để 8 làm bàn đạp cho chiến lược kinh doanh về các kỹ thuật công nghệ trong kinh doanh. - Chiến lƣợc khai thác các mức độ tự do: nhằm khai thác tất cả khả năng hiện có của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh.
Dù tiếp cận theo cách nào đi nữa thì các yếu tố cấu thành chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp có quan hệ hữu cơ và tác động qua lại thúc đẩy hoặc hạn chế lẫn nhau. Vì vậy, trong bộ phận doanh nghiệp luôn luôn phải xác định được các mục tiêu phương hướng của chiến lược để có cái nhìn mạch lạc hơn, phân tích và phối hợp giữa các khâu trơn tru và rõ ràng hơn.