Phát triển du lịch văn hóa tại khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đền Hùng

Nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp của Trần Thị Hoàng Ly. Bài viết trình bày chi tiết về chủ đề, phương pháp và kết quả nghiên cứu khoa học.

Trường đại học

Đại học Hoà Bình

Chuyên ngành

Du lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2022

68
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển du lịch văn hóa tại Đền Hùng

Đền Hùng là khu di tích lịch sử cấp quốc gia nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Đây là nơi thờ cúng các Vua Hùng – những vị vua đầu tiên có công dựng nước. Di tích cách Hà Nội khoảng 85 km về phía Tây Bắc, dễ dàng tiếp cận bằng đường bộ. Quần thể di tích bao gồm đền Hạ, đền Trung, đền Thượng, đền Giếng và lăng vua Hùng. Hàng năm,尤其是在 dịp Giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng Ba âm lịch, hàng triệu du khách từ khắp cả nước đổ về hành hương. Phú Thọ sở hữu nguồn tài nguyên văn hóa phong phú, bao gồm các di sản phi vật thể được UNESCO công nhận như Hát Xoan và Ca Trù. Du lịch văn hóa tại Đền Hùng không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn là động lực phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Việc nghiên cứu và phát triển loại hình du lịch này trở thành nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược du lịch quốc gia.

1.1. Giá trị lịch sử và văn hóa của Đền Hùng

Đền Hùng gắn liền với truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ – biểu tượng nguồn gốc dân tộc Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2012. Quần thể di tích lưu giữ nhiều giá trị kiến trúc, nghệ thuật qua các triều đại phong kiến. Các di tích đền, chùa, lăng mộ được trùng tu và bảo tồn qua nhiều thế kỷ. Nơi đây còn là trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng quan trọng, phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cộng đồng dân cư Phú Thọ nói riêng và cả dân tộc nói chung.

1.2. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên

Đền Hùng tọa lạc trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh với độ cao khoảng 175 mét so với mực nước biển. Vị trí nằm trong vùng trung du Phú Thọ, bao quanh bởi cảnh quan thiên nhiên xanh mát, sông núi hữu tình. Giao thông kết nối thuận tiện qua quốc lộ 2 và cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa rõ rệt tạo điều kiện cho du khách tham quan quanh năm. Mùa xuân từ tháng Giêng đến tháng Ba là thời điểm du lịch cao điểm nhất, thu hút lượng khách lớn nhất.

II. Phân tích thực trạng du lịch văn hóa tại Đền Hùng

Hoạt động du lịch văn hóa tại Đền Hùng đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm gần đây. Lượng khách du lịch tăng trưởng ổn định, đặc biệt vào mùa lễ hội. Tuy nhiên, thực trạng phát triển vẫn tồn tại nhiều hạn chế cần được phân tích kỹ lưỡng. Cơ sở hạ tầng du lịch còn chưa đồng bộ, thiếu các dịch vụ lưu trú cao cấp và khu vui chơi giải trí đa dạng. Nguồn nhân lực du lịch chưa được đào tạo bài bản, chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng kỳ vọng của du khách quốc tế. Sản phẩm du lịch chủ yếu tập trung vào hoạt động hành hương tâm linh, thiếu sự đa dạng hóa. Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể như Hát Xoan, Ca Trù chưa được đầu tư đúng mức. Việc khai thác du lịch mùa vụ vẫn là vấn đề nan giải, gây áp lực lên hạ tầng vào dịp lễ lớn. Quản lý di tích và quy hoạch tổng thể cần được cải thiện để đảm bảo phát triển bền vững.

2.1. Đặc điểm nguồn khách và nhu cầu du lịch

Nguồn khách đến Đền Hùng chủ yếu là khách nội địa, chiếm hơn 95% tổng lượng khách. Khách quốc tế đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và một số nước châu Âu. Phân tích theo độ tuổi, nhóm khách từ 30 đến 60 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất, thường đi theo gia đình hoặc đoàn thể. Nhu cầu chính của du khách là hành hương tâm linh, tìm hiểu lịch sử và tham gia lễ hội. Du khách trẻ tuổi có xu hướng tìm kiếm trải nghiệm văn hóa độc đáo, chụp ảnh và khám phá ẩm thực địa phương. Nhu cầu lưu trú qua đêm còn thấp, phần lớn du khách đến trong ngày.

2.2. Hạn chế trong cơ sở hạ tầng và dịch vụ

Cơ sở hạ tầng giao thông nội bộ tại khu di tích còn chật hẹp, đặc biệt vào mùa lễ hội. Bãi đỗ xe không đáp ứng đủ nhu cầu, gây ùn tắc giao thông nghiêm trọng. Hệ thống nhà hàng, quán ăn chủ yếu là kinh doanh tự phát, thiếu quy hoạch và kiểm soát chất lượng. Các cơ sở lưu trú quanh khu vực chủ yếu ở phân khúc bình dân, chưa có khách sạn đạt chuẩn quốc tế. Hệ thống biển chỉ dẫn, thông tin đa ngôn ngữ còn hạn chế. Khu vực mua sắm quà tặng, sản phẩm đặc sản chưa được đầu tư bài bản, thiếu sức hấp dẫn với du khách.

III. Giải pháp phát triển du lịch văn hóa bền vững tại Đền Hùng

Để phát triển du lịch văn hóa tại Đền Hùng một cách bền vững, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết, quy hoạch tổng thể khu di tích cần được cập nhật, đảm bảo hài hòa giữa bảo tồn và phát triển. Đầu tư nâng cấp hạ tầng giao thông, xây dựng bãi đỗ xe thông minh và hệ thống vận chuyển nội bộ là ưu tiên hàng đầu. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch bằng cách phát triển tour trải nghiệm Hát Xoan, workshop Ca Trù và các hoạt động tìm hiểu văn hóa dân gian. Xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, nâng cao kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ và kiến thức di sản. Ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và quản lý du lịch, bao gồm hệ thống vé điện tử và bản đồ du lịch thông minh. Liên kết vùng với các điểm du lịch lân cận để tạo chuỗi sản phẩm du lịch hấp dẫn. Tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo tồn di sản và xúc tiến du lịch.

3.1. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch văn hóa

Sản phẩm du lịch tại Đền Hùng cần được đa dạng hóa beyond hoạt động hành hương truyền thống. Phát triển tour trải nghiệm trực tiếp nghệ thuật Hát Xoan với các phường Xoan gốc như Phù Đức, Thét, Kim Đái, An Thái. Tổ chức workshop Ca Trù cho du khách quốc tế muốn tìm hiểu nghệ thuật truyền thống. Xây dựng không gian trưng bày triển lãm tương tác về lịch sử thời đại Hùng Vương. Phát triển ẩm thực đặc trưng Phú Thọ thành sản phẩm du lịch hấp dẫn. Tổ chức các sự kiện văn hóa định kỳ quanh năm để thu hút khách ngoài mùa lễ hội.

3.2. Ứng dụng công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực

Công nghệ số đóng vai trò quan trọng trong nâng cao trải nghiệm du khách và hiệu quả quản lý. Xây dựng ứng dụng di động hướng dẫn tham quan đa ngôn ngữ, tích hợp công nghệ thực tế ảo tái hiện lịch sử. Triển khai hệ thống vé điện tử và quản lý dòng khách thông minh để giảm ùn tắc mùa lễ hội. Đào tạo nguồn nhân lực du lịch cần được thực hiện bài bản qua các chương trình hợp tác với trường đại học. Nâng cao kỹ năng thuyết minh, giao tiếp ngoại ngữ và kiến thức văn hóa cho đội ngũ hướng dẫn viên. Xây dựng tiêu chuẩn dịch vụ riêng cho khu di tích tâm linh quốc gia.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng phát triển du lịch Đền Hùng

Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tại Đền Hùng cho thấy tiềm năng to lớn của khu di tích quốc gia này. Đền Hùng sở hữu hệ thống tài nguyên văn hóa phong phú, bao gồm tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương, Hát Xoan và Ca Trù – đều là di sản được UNESCO công nhận. Tuy nhiên, quá trình khai thác du lịch vẫn tồn tại nhiều bất cập về hạ tầng, sản phẩm và nguồn nhân lực. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp đã đề xuất sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động du lịch. Phú Thọ có truyền thống văn hóa lâu đời, con người thông minh và sáng tạo, đủ năng lực để xây dựng Đền Hùng thành điểm đến du lịch văn hóa hàng đầu quốc gia. Phát triển du lịch bền vững không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản cho các thế hệ mai sau. Đây là hành trình cần sự chung tay của toàn xã hội.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học ở chỗ hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và ứng dụng vào thực tiễn khu di tích quốc gia. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu phân tích toàn diện về thực trạng hoạt động du lịch tại Đền Hùng. Về mặt thực tiễn, các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý và doanh nghiệp du lịch. Đồng thời, đề tài cũng đóng góp vào kho tàng học thuật về phát triển du lịch di sản tại Việt Nam.

4.2. Triển vọng phát triển và hướng nghiên cứu tiếp theo

Triển vọng phát triển du lịch văn hóa tại Đền Hùng rất lạc quan trong bối cảnh du lịch di sản ngày càng được ưa chuộng. Chính sách hỗ trợ của nhà nước và tỉnh Phú Thọ tạo nền tảng thuận lợi cho đầu tư phát triển. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung đánh giá tác động kinh tế – xã hội của du lịch đối với cộng đồng địa phương. Nghiên cứu so sánh mô hình phát triển du lịch di sản với các quốc gia trong khu vực cũng là hướng đi tiềm năng. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong dự báo lượng khách và tối ưu hóa trải nghiệm du khách sẽ là xu hướng cần được quan tâm.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: Phú Thọ mảnh đất văn hiến, nơi lưu giữ nhiều di sản văn hoá phong phú, đặc sắc có giá trị như những công trình kiến trúc nghệ thuật, những di tích lịch sử - văn hoá, lễ hội truyền thống, những làng nghề thủ công đặc sắc…Một trong số đó có thể kể đến là tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nét văn hóa độc đaó mà chỉ Việt Nam mới có. Bên cạnh đó, đây cũng là quê hương của nhiều ngôi đền nổi tiếng như Đền Tam Giang và chùa Đại Bi, Đền Quốc Mẫu Âu Cơ,. là những điểm đến hấp dẫn để cho huyện có thể phát triển du lịch nhân văn. Hơn nữa, những điều kiện về kinh tế xã hội, những cơ chế chính sách của Đảng, nhà nước và của ngành du lịch cũng có tác động mạnh mẽ thúc đẩy phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa tâm linh nói riêng.

Với những điều kiện đó, đáng lẽ ra du lịch văn hóa tại Việt Trì nói riêng và Phú Thọ nói chung phải phát triển ngang tầm với các địa phương khác trong khu vực. Tuy nhiên, hoạt động du lịch ở mảnh đất tươi đẹp, giàu tài nguyên này vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng của mình. Các thực trạng hoạt động du lịch đó sẽ được tác giả thống kê, phân tích ở chương sau. 14 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH LỊCH SỬ CẤP QUỐC GIA ĐỀN HÙNG 1.

Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa tâm linh tại khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đền Hùng 1. Điều kiện bên trong 1. Vị trí địa lí Vị trí địa lí thành phố Việt trì Thành phố Việt Trì nằm ở phía đông của tỉnh Phú Thọ, phía bờ tả ngạn sông Hồng, nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội 70 km về phía Tây Bắc, cách cửa khẩu quốc tế Lào Cai 350 km về phía Đông, cách trung tâm thành phố Hải Phòng 140 km về phía Tây Bắc. Nằm ở Ngã ba Hạc, nơi có con sông Thao hợp lưu với dòng sông Lô và sông Đà thành dòng Sông Hồng; là đỉnh đầu của vùng Tam giác châu thổ Sông Hồng trù phú, lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam nên Việt Trì còn được biết đến với cái tên: Thành phố ngã ba sông.

Thành phố Việt Trì có vị trí địa lý: Phía đông giáp huyện Vĩnh Tường và huyện Lập Thạch thuộc tỉnh Vĩnh Phúc Phía tây giáp huyện Lâm Thao Phía nam giáp huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội với ranh giới tự nhiên là sông Hồng Phía bắc giáp huyện Phù Ninh và huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Các điểm cực của thành phố là: Cực Bắc: Xóm Dầm, xã Kim Đức. Cực Tây: Xóm Vàng, xã Chu Hóa. Cực Nam: Khu Mộ Chu Hạ, Phường Bạch Hạc.

Cực Đông: Xóm Vinh Quang, xã Sông Lô. 15 Vị trí địa lí khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đền Hùng Khu di tích lịch sử Đền Hùng nằm trong vùng đất thấp phía Tây Bắc thành phố Việt Trì. Tổng diện tích tự nhiên trên 1.000ha (theo quyết định 48/2004/QĐ-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ) thuộc phần đất trong địa giới hành chính của 7 xã: Hy Cương, Chu Hóa, Tiên Kiên, Thanh Đình - huyện Lâm Thao; Phù Ninh; Kim Đức và xã Vân Phú - thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Khu di tích lịch sử Đền Hùng được xác định trong tọa độ địa lý: từ 21o24ph 08 giây đến 21o28ph 76 giây, từ từ 104o77ph 15 giây đến 104o81ph 68 kinh độ đông, được chia thành 2 vùng: Vùng trung tâm và vùng điều chỉnh xây dựng Rừng quốc gia Đền Hùng được bảo vệ nghiêm ngặt có diện tích là 538ha, chủ yếu thuộc 2 xã Hy Cương, huyện Lâm Thao và Phù Ninh, huyện Phù Ninh.

Vùng đệm có diện tích hơn 500ha gồm 7 xã nói trên. Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, giữa đất Phong Châu, ngày nay là xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Quần thể di tích đền Hùng nằm từ chân núi đến đỉnh ngọn núi Nghĩa Lĩnh cao 175 mét (núi có những tên gọi như Núi Cả, Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo Thiếu Lĩnh, Bảo Thiếu Sơn), thuộc địa phận xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trong khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt giáp giới với những xã thuộc huyện Lâm Thao, Phù Ninh và vùng ngoại ô thành phố Việt Trì, cách trung tâm thành phố Việt Trì khoảng 10 km. Khu vực đền Hùng ngày nay nằm trong địa phận của kinh đô Phong Châu của quốc gia Văn Lang xưa.

Theo cuốn Ngọc phả Hùng Vương, đương thời các Vua Hùng đã cho xây dựng điện Kính Thiên tại khu vực núi Nghĩa Lĩnh này. Lịch sử hình thành và phát triển Lịch sử hình thành thành phố Việt Trì Vào thời đại Hùng Vương, vùng Việt Trì - Bạch Hạc là trung tâm chính trị - kinh tế và được coi là kinh đô của Nhà nước Văn Lang. Dưới thời thuộc Hán, vùng Việt Trì thuộc về huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ. 16 Thời Tam Quốc - Lưỡng Tấn và thời nhà Tuỳ (thế kỷ III đến thế kỷ VI) thuộc huyện Gia Ninh, quận Tân Xương.

Đời nhà Đường, vùng Việt Trì thuộc huyện Thừa Hóa, quận Phong Châu; Thời Loạn 12 sứ quân (944-967), Việt Trì nằm trong khu vực chiếm giữ của sứ quân Kiều Công Hãn. Thời Lý - Trần, Việt Trì thuộc về châu Thao Giang, lộ Tam Giang. Thời nhà Lê, Việt Trì là một thôn thuộc xã Bạch Hạc, phủ Tam Đới (Tam Đái), trấn Sơn Tây. Đầu thời Nguyễn, địa giới Việt Trì cơ bản vẫn giữ như thời Hậu Lê.

Năm 1832, vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong cả nước thành tỉnh. Thôn Việt Trì thuộc về phường Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, phủ Tam Đái; sau đổi thành phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây. Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp xáo trộn lại các đơn vị hành chính cũ, lập ra những tỉnh mới nhỏ hơn trước để dễ quản lý và đàn áp. Việt Trì tách khỏi xã Bạch Hạc, trở thành một làng trong tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì; còn xã Bạch Hạc vẫn nằm trong huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên.

Nhận rõ Việt Trì là cửa ngõ án ngữ các tuyến đường giao thông thủy, bộ ở phía Bắc Việt Nam, không chỉ có vị trí quan trọng về mặt kinh tế mà còn là tiền đồn trọng điểm về quân sự, ngày 22 tháng 10 năm 1907, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thành lập thị trấn Việt Trì và đặt trung tâm huyện lỵ Hạc Trì tại đây. Cách mạng tháng 8-1945 thành công, Việt Trì thuộc liên xã Sông Lô bao gồm các xã: Lâu Hạ, Hạ Giáp, Thuần Lương, Việt Trì làng và Việt Trì phố. Tháng 2 năm 1945, thị trấn Việt Trì được tái lập gồm ba khu phố: Thuần Lương, Việt Hưng và Việt Lợi. 17 Ngày 7 tháng 6 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định cho sáp nhập thị trấn Bạch Hạc thuộc huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về thị trấn Việt Trì và chuyển thành thị xã Việt Trì.

Ngày 2 tháng 1 năm 1960, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 003-TTg sáp nhập ba xã: Chính Nghĩa, Sông Lô, Trưng Vương của huyện Hạc Trì vào thị xã Việt Trì. Ngày 4 tháng 6 năm 1962, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 65-CP thành lập thành phố Việt Trì trực thuộc tỉnh Phú Thọ trên cơ sở thị xã Việt Trì và 4 xã: Lâu Thượng, Minh Khai, Minh Phương (trừ xóm Minh Phú), Tân Dân thuộc huyện Hạc Trì. Cũng trong năm này, Chính phủ ra quyết định giải thể huyện Hạc Trì, chuyển 2 xã: Hùng Thao (nay là xã Cao Xá) và xã Thống Nhất (nay là xã Thụy Vân) nhập vào huyện Lâm Thao, những xã còn lại nhập vào Thành phố Việt Trì; xã Chính Nghĩa đổi tên thành xã Tiên Cát; xã Minh Khai đổi tên thành xã Minh Nông. Cũng trong ngày ngày 26 tháng 1 năm 1968, Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra Nghị quyết số 504-NQ/TVQH tiến hành hợp nhất hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh Phú.

Thành phố Việt Trì trở thành tỉnh lỵ của Vĩnh Phú. Sau năm 1975; thành phố Việt Trì có 4 phường: Tân Dân, Thanh Miếu, Tiên Cát, Vân Cơ, thị trấn Bạch Hạc và 6 xã: Quất Thượng, Sông Lô, Minh Phương, Dữu Lâu, Lâu Thượng, Minh Nông. Ngày 27 tháng 6 năm 1977, hợp nhất ba xã Quất Thượng, Lâu Thượng và Sông Lô thành xã Trưng Vương. Ngày 5 tháng 7 năm 1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định hợp nhất và điều chỉnh địa giới một số huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phú.

Các xã Vân Phú, Phượng Lâu của huyện Phù Ninh, xã Thụy Vân của huyện Lâm Thao, thôn Mộ Chu Hạ, thôn Lang Đài của xã Bồ Sao, huyện Vĩnh Tường sáp nhập về thành phố Việt Trì (trong đó, các thôn Mộ Chu Hạ, Lang Đài được sáp nhập vào thị trấn Bạch Hạc). 18 Ngày 13 tháng 1 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định phân vạch địa giới xã, phường của Thành phố Việt Trì. Theo đó, giải thể thị trấn Bạch Hạc để thành lập phường Bạch Hạc; đồng thời chia lại các phường cũ, lập các phường mới: chia phường Thanh Miếu thành 2 phường: Thanh Miếu và Thọ Sơn; chia phường Vân Cơ thành 3 phường: Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ. Ngày 11 tháng 10 năm 1986, chia xã Trưng Vương thành 2 xã Sông Lô và Trưng Vương.

Đến thời điểm này, thành phố Việt Trì gồm 8 phường: Bạch Hạc, Thanh Miếu, Thọ Sơn, Tiên Cát, Gia Cẩm, Nông Trang, Vân Cơ, Tân Dân và 8 xã: Dữu Lâu, Minh Phương, Minh Nông, Vân Phú, Sông Lô,Trưng Vương, Phượng Lâu, Thụy Vân. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khoá IX ra Nghị quyết tách tỉnh Vĩnh Phú thành 2 tỉnh Vĩnh Phúc và Phú Thọ, thành phố Việt Trì tiếp tục là trung tâm chính trị- kinh tế- văn hoá của tỉnh Phú Thọ. Lịch sử hình thành khu di tích lịch sử cấp quốc gia Đền Hùng Đền Hùng được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là khu di tích đặc biệt của quốc gia vào năm 1962. Đến năm 1967, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khoanh vùng xây dựng khu rừng cấm Đền Hùng.

Ngày 8 tháng 2 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng lần thứ nhất, tạo tiền đề cho việc đầu tư xây dựng nhiều công trình hạng mục trong khu di tích. Ngày 6 tháng 1 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 82/2001/NĐ-CP, quy định về quy mô, nghi lễ tổ chức giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng hàng năm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ