Chương 1. Giới thiệu Chương 2. Tông quan về rủi ro bức xạ, mối tương quan giữa rủi ro và liều lượng Chương 3. Trình bày về thực trạng Chiếu chụp X-quang và tái chiếu chụp CT Chương 4.
Ket luận và kiến nghị cần thực hiện trong ưrơng lai 2 CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN VÈ RỦI RO BỨC XẠ 2.1 Mối tương quan giữa rủi ro bức xạ và liều bức xạ 2.1 Tương tác bức xạ với cơ thê người Bức xạ ion hóa là bất kỳ hạt hay tia bức xạ nào có đủ năng lượng đê bứt electron ra khôi lớp vò nguyên tìr của nó. Bức xạ ion hoá khi tương tác với cơ thê người tạo ra các các phân ữr có hoạt tính cao được gọi là các gốc ựr do. Các gốc ựr do này đến lượt mình có khả năng gây tôn thương hoặc làm chết tế bào, hoặc ở mức độ phân ừr có thê gây tôn thương cấu chúc DNA (Deoxyribonucleic acid). Con người có thê bị ảnh hưởng bời các bức xạ ion hóa từ bên ngoài lần bên trong cơ thê.
Cơ thê con người bao gồm killing xương và các cơ quan nội tạng (hệ hô hấp, hệ tuần hoàn, hệ tiêu quá, hệ bạch huyết, hệ tiết niệu). Các bộ phận cùa cơ thê người được cấu tạo tò các tế bào, các tế bào có cùng chức năng được tạo thành mô, các mô tạo thành một cơ quan, các cơ quan gộp thành một hệ thống cơ thê hoàn chinh. Việc phân chia tế bào diễn ra liên tục. Đổi với người lớn việc phân chia diễn ra hàng giờ hoặc cả ngày, nhưng đối với trẻ em hay thai nhi việc phân chia tế bào diễn ra rất nhanh vì vậy nếu việc tôn thương bức xạ xảy ra trong việc phân chia tế bào thì tôn thương sẽ rất lớn và sẽ gặp rủi ro cao hơn ư'ĩ tác động của bức xạ.
Trong y tế việc sử dụng các thiết bị y tế phát ra bức xạ ion hóa đê thực hiện các phương pháp chân đoán và điều trị cho bệnh nhân rất phô biến, song song với các lợi ích mà nó mang lại, bức xạ ion hoá còn gây ra những tôn thương bức xạ mang đến một sổ rủi ro nhất định. Bức xạ ion hóa có thê gây tôn thương mô. Tôn thương mô xảy ra thông qua sự thay đôi tính chất hóa học của các phân tử trong mô sau khi tiếp xúc với bức xạ. Chúng góp phần chính gây ra những tôn thương do bức xạ thông qua việc bức xạ làm thay đôi phân ữr nước tạo thành các "gốc ựr do".
Các gốc ựr do có hoạt tính hóa học cao có thê có phản ứng với các phần ữr di truyền của tế bào (tức là DNA). Điều này có thê tạo ra những tôn thương cho DNA mà hầu hết trong số đó được tế bào sửa chữa dễ dàng. Neu không sửa chữa được, chúng có thê làm chết tế bào. Ngoài ra, nếu 3 tôn thương DNA được sửa chữa một cách sai lầm, dúng có thê làm thay đôi mã hóa di truyền dần đến những thay đôi di truyền hoặc cảm ứng ung thư.1 Bức xạ - Hiệu ứng Tất Định và Hiệu ứng Ngầu Nhiên Những thay đôi dần đến chết tế bào được gọi là “Hiệu ứng tất định”; trong khi những thay đôi đối với mã hóa DNA dẫn đến những thay đôi bất lợi khác được gọi là “Hiệu ứng ngẫu nhiên” xem ờ hình 2.1 Hiệu ứng tất định (tế bào chết) Hiệu ứng tất định (hoặc phản ứng mô) cùa bức xạ ion hóa liên quan tạrc tiếp đến liều bức xạ được hấp thụ và imíc độ nghiêm trọng của hiệu írng tăng lên khi liều lượng tăng lên.
Hiệu ứng tất định thường có một ngưỡng liều (độ lớn cỡ 0,1 Gy =100 mGy trờ lên) dưới ngưỡng, hiệu ứng này không xảy ra. Hiệu ứng tất định dựa trên mức độ tôn thương mô. Tuy nhiên, các hiệu ứng tất định của bức xạ không cần phải được coi là mối nguy hại cho sức kliòe ở liều thấp do dựa trên khuyến nghị về ngưỡng liều trong các ấn phàm ICRP (International Commission on Radiation Protection) 60 và 103; có thê tham khảo trong Bảng 2.1 chi ra rằng trong phạm vi liều hấp thụ lên đến khoảng 100 mGy (LET(Linear energy transfer) thấp hoặc LET cao) không có mô nào được đánh giá là biêu hiện suy giảm chirc năng liên quan về mặt lâm sàng. Dự đoán này áp dụng cho cả các liều cấp tính duy nhất và các tình huống mà các liều thấp này được trải qua ờ dạng kéo dài khi phơi nhiễm hàng năm lặp lại.
Theo công bố 103 cùa ICRP (ICRP 2007), ngưỡng tác động xác định sau khi phơi nhiễm trước và sau khi sinh được đề xuất là > 100 mGy và đánh giá này đổi với liều cấp tính đã được ICRP phê 4 chuẩn (tài liệu tham khảo ý kiến năm 2012). Dị tật do bức xạ được ICRP 103 (ICRP 2007) coi là có ngưỡng liều ~ 100 mGy Ví dụ về hiệu ứng tất định là tôn thương thủy tinh thê cùa mắt. Khi phơi nhiễm với một lượng liều thấp, dưới ngưỡng lieu, mắt có thê chưa phát hiện độ mờ nhưng khi tăng đến ngưỡng liều nhất định độ mờ của mắt bắt đầu xuất hiện. Neu tăng thêm liều sẽ dẫn đến đục thủy tinh thê ờ mắt.
Do có nhiều bằng clứrng dịch tề học liên quan tới bệnh đục thuỷ tinh thê mà ICRP đã thay đôi giới hạn liều nghề nghiệp đối với thủy tinh thể là từ 150 mSv (ICRP 60) xuống còn 20 mSv (ICRP 103) mồi năm tính trung bình trong 5 năm liên tục (100 mSv trong 5 năm) và 50 mSv trong bất kỳ năm nào.1 dưới đây đưa ra một số ngưỡng lieu birc xạ đổi với hiệu írng tất định.1 Ngưỡng liều cho các tác động tất định (Peck & Samei, 2017) Tống ngưỡng liều cấp Thòi gian đê phát Mô Hiệu ứng tính(Gy) triến hiệu ứng Độ mờ có thê 0,5-2 >1 năm Thấu kính phát hiện của mắt Hình thành đục >1 năm 5,0 thủy tinh thê 3-6 1-4 tuần Đỏ da Rụng tóc tạm thời 4 2-3 tuần Da Da chết và sẹo 5-10 1-4 tuần Vô sinh tạm thời 0,15 3-9 tuần Tinh hoàn Vô sinh vĩnh viễn 3,5-6 3 tuần Buồng Vô sinh vĩnh viền 2,5-6 < 1 tuần trứng Mất lớp niêm mạc 6 6-9 ngày Tiêu hóa Giảm sản xuất tế Tủy xưong 0,5 bào máu 1-2 tháng Mức độ mắc 1%1 dựa trên ICRP công bố 103 (2007) 1 Ngưỡng liều cho phân ứng mô là mức liều ước tính chì dẫn đến 1% tỷ lệ phàn ứng mô (Protection, 2007). Các ước tinh được đưa ra cho các tiêu chi bệnh tật và từ vong ờ tất cá các hệ thống cơ quan sau khi tiếp xúc 5 2.2 Hiệu ứng ngẫu nhiên (thay đối di truyền và mắc bệnh ung thư) Hiệu ứng ngẫu nhiên là hiệu ứng xuất hiện không thê dự đoán được. Trong hầu hết các trường hợp, liều bức xạ hiệu írng ngẫu nhiên sẽ không giết chết te bào nlimig có thê thay đôi cấu trúc DNA và làm ảnh hưởng đến hệ thống điều khiên của tế bào làm cho tế bào phần chia nhanh hơn bình thường, số tế bào bất thường được tăng lên nhanh chóng và nếu các tế bào bất thường này phát triên trong mô hoặc cơ quan bình thường sẽ dần đến ung thư. Hiệu ứng ngẫu nhiên do bírc xạ ion hóa gây ra là sự kiện ngẫu nhiên, với xác suất cùa hiệu ứng tăng dần theo liều lượng, nhưng mức độ nghiêm trọng của hiệu ứng không phụ thuộc vào liều lượng nhận được.
Hiệu írng ngầu nhiên được cho là không có ngưỡng. Nguy cơ ung thư là chù yếu, nhưng cũng có các rối loạn di truyền là các hiệu ứng ngẫu nhiên với tổng thiệt hại là ~ 5% / Sv (ICRP xuất bản 103 (ICRP 2007)) (SCENIHR, 2012). Hiệu ứng di truyền do bírc xạ (đột biến dòng mầm gây ra bởi bức xạ truyền cho con cái và có thê dẫn đến dị tật bâm sinh hoặc tăng nguy cơ mắc bệnh đa yếu tổ thông thường) không được xem xét ở đầy, vì chúng chưa được quan sát thấy ờ quần thê người với liều lượng cao hơn.2 Định nghĩa rủi ro Rủi ro là khái niệm phô biến mà chúng ta thường được nghe thấy và được dùng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, ròi ro mang đến những tác hại không mong muốn. Rủi ro được định nghĩa là tích của xác suất mà hậu quả gây hại có thê xảy ra và kích thước của hậu quả đó.
Có rất nhiều rủi ro khác nhau nhưng trong bài khóa luận này chi quan tâm đến các rủi ro: rủi ro bức xạ, rủi ro về sức khỏe từ các loại bệnh do ảnh hưởng hr bức xạ. về rủi ro người ta thường sử dụng số người chết, sử dụng số người bị mắc ung thư hoặc ti lệ một nhóm người mắc ung thir đê làm thước đo cho mức độ nghiêm trọng của rủi ro đó. Trong y tế, những rủi ro này hầu hết liên quan đến việc phơi nhiễm bức xạ ion hóa dẫn đến rủi ro chết người hoặc gia tăng số lượng người mắc ung thư. Y tế sử dụng brrc xạ gồm có: Xạ trị, Chân đoán hình ảnh và Y bức xạ.
ví dụ như: có 100 người cùng nhận và đạt được ngưỡng liều 100 mSv nhưng chi có 1 người nhận được phán ứng mô liên quan dẫn đến các hiệu ứng có thế quan sát được. 6 học hạt nhân, với sự phát triên ngày càng vượt bậc của công nghệ và kỹ thuật, các phương pháp chân đoán và điều trị bệnh hiện đại sir dụng các kỹ thuật birc xạ và hạt nhân tiên tiến đã mang lại nhiều lợi ích to lớn cho y tế và bệnh nhân. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà kỹ thuật bức xạ đem lại, bệnh nhân còn phải chịu những rủi ro bức xạ ngày càng gia tăng nhanh chóng như việc gia tăng liều hiệu dụng và liều tích lũy cá nhân như các nhận định tại cuộc họp kỳ thuật do IAEA tổ chức (IAEA, 4-6 March 2019) (IAEA, 19-23 October 2020). Việc đánh giá rủi ro bức xạ đối với bệnh nhân đang là vấn đề đang được quan tâm trên thế giới và ờ Việt Nam, đánh giá rủi ro còn giúp đưa ra một số giải pháp cần thực hiện đê nâng cao vào đảm bảo an toàn bức xạ trong y tế, áp dụng và hoàn thiện các nguyên tẳc luận chứng, tối ưu hóa trong việc sử dụng bức xạ ion hóa trong y tế đê nâng cao hiệu quả tích cực trong chân đoán và điều trị bệnh và đảm bảo an toàn tối ưu cho bệnh nhân.3 Đại lượng liều Liều hiệu dụng được ICRP công bố như một thước đo bảo vệ chống bức xạ liên quan đến xác suất rủi ro gây hại cho sức khỏe do hiệu ứng ngẫu nhiên gây ra khi tiếp xúc với liều thấp bức xạ ion hóa.