Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu hiệu ứng sai hình nhiễm sắc thể ở tế bào lympho người dưới tác động của bức xạ ion hoá và một số hoá chất dùng trong nông nghiệp

Luận án tiến sĩ sinh học phân tích hiệu ứng sai hình nhiễm sắc thể ở tế bào lympho người do bức xạ ion hóa và hóa chất nông nghiệp.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Sinh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

179
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TONG QUAN TÀI LIỆU

1.1. NHIEM SAC THỂ, BỘ NHIEM SAC THỂ NGƯỜI

1.2. Phân loại tác nhân đột biến theo cơ chế gây tổn thương phân tử ADN

1.3. Phân loại sai hình nhiễm sắc thể và cơ chế hình thành

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.2. Các nguồn bức xạ sử dụng trong nghiên cứu

2.3. Các hoá chất sử dụng trong nghiên cứu

2.4. Các thiết bị nuôi cấy tế bào và phân tích số liệu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KARYOTYPE NGƯỜI

3.2. NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG SAI HÌNH NST IN VITRO Ở TẾ BÀO LYMPHO DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA BỨC XẠ ION HÓA

3.3. Phân bố tổn thương đứt gãy đôi giữa các NST trong tế bào lympho dưới tác động của bức xạ gamma và bức xạ neutron

3.4. Số lượng mảnh dư trong tế bào chứa sai hình NST gây ra bởi bức xạ gamma và bức xạ neutron

3.5. Nghiên cứu các mối quan hệ định lượng giữa liều hấp thụ của bức xạ ion hoá với tần số sai hình NST 2 tâm ở tế bào lympho

3.6. NGHIÊN CỨU HIỆU ỨNG SAI HÌNH NHIỄM SẮC THỂ IN VITRO Ở TẾ BÀO LYMPHO DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA MỘT SỐ HOÁ CHẤT SỬ DỤNG TRONG NÔNG NGHIỆP

3.7. NGHIÊN CỨU SAI HÌNH NST IN VIVO Ở CÁC ĐỐI TƯỢNG SỐNG TRONG CÁC VÙNG DÂN CƯ KHÁC NHAU

PHẦN PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan tài liệu

Nghiên cứu về bức xạ ion hóahóa chất nông nghiệp đã chỉ ra rằng các tác nhân này có thể gây ra sai hình nhiễm sắc thể (NST) trong tế bào lympho người. Các nghiên cứu trước đây đã xác định rằng tế bào lympho là một chỉ thị quan trọng để đánh giá tác động của bức xạ và hóa chất lên ADN. Việc phân loại các tác nhân đột biến theo cơ chế gây tổn thương phân tử ADN là cần thiết để hiểu rõ hơn về cơ chế hình thành sai hình nhiễm sắc thể. Các tổn thương ADN có thể được chia thành hai loại chính: đứt gãy chuỗi và các tổn thương tạo cầu liên kết. Bức xạ ion hóa thường gây ra đứt gãy đôi, trong khi hóa chất có thể gây ra các tổn thương khác nhau thông qua các phản ứng hóa học.

1.1. Sai hình nhiễm sắc thể

Sai hình NST có thể được phân loại thành nhiều kiểu khác nhau, bao gồm đa tâm, mảnh không tâm, vòng có tâm và không tâm, chuyển đoạn, đảo đoạn. Cơ chế hình thành các kiểu sai hình này thường liên quan đến sự tái liên kết giữa các đầu dính do đứt gãy đôi. Nghiên cứu của Savage đã chỉ ra rằng sự hình thành sai hình NST phụ thuộc vào số lượng và vị trí của các đứt gãy đôi trên NST. Các nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra rằng các hóa chất nông nghiệp cũng có thể gây ra sai hình NST tương tự như bức xạ ion hóa, mở ra khả năng sử dụng sai hình NST như một chỉ thị để phát hiện nhiễm độc môi trường.

II. Nghiên cứu sai hình NST in vitro

Nghiên cứu sai hình NST in vitro ở tế bào lympho dưới tác động của bức xạ ion hóa cho thấy mối liên quan giữa liều lượng bức xạ và tần số sai hình NST. Các thí nghiệm đã chỉ ra rằng liều bức xạ cao hơn dẫn đến tần số sai hình NST cao hơn, điều này cho thấy hiệu ứng bức xạ ion hóa có tính liều. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các hóa chất nông nghiệp như Bai58, Dimenat, và Supracid có thể gây ra các kiểu sai hình NST tương tự như bức xạ ion hóa. Điều này cho thấy rằng các hóa chất này có thể có tác động tương tự như bức xạ ion hóa trong việc gây tổn thương ADN.

2.1. Tác động của bức xạ ion hóa

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bức xạ ion hóa có thể gây ra các tổn thương ADN nghiêm trọng, dẫn đến sự hình thành sai hình NST. Tần số sai hình NST tăng lên theo liều lượng bức xạ, cho thấy mối quan hệ định lượng giữa liều bức xạ và tần số sai hình. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá rủi ro sức khỏe liên quan đến bức xạ ion hóa trong môi trường sống. Việc sử dụng sai hình NST như một chỉ thị để phát hiện nhiễm độc môi trường có thể giúp cải thiện các biện pháp bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

III. Kết quả và bàn luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sai hình nhiễm sắc thể ở tế bào lympho có thể được sử dụng như một chỉ thị để phát hiện nhiễm độc môi trường. Các phương trình chuẩn liều-hiệu ứng đã được xây dựng cho các nguồn bức xạ tại Lò Phản ứng Hạt nhân Đà Lạt, phục vụ cho công tác định liều sinh học. Nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng các hóa chất nông nghiệp có thể gây ra sai hình NST tương tự như bức xạ ion hóa, điều này mở ra khả năng sử dụng sai hình NST trong việc đánh giá tác động của hóa chất nông nghiệp lên sức khỏe con người.

3.1. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu này có giá trị thực tiễn cao trong việc đánh giá rủi ro sức khỏe liên quan đến bức xạ ion hóa và hóa chất nông nghiệp. Việc sử dụng sai hình NST như một chỉ thị để phát hiện nhiễm độc môi trường có thể giúp các nhà khoa học và các nhà quản lý môi trường đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng góp phần nâng cao nhận thức về tác động của bức xạ và hóa chất đến sức khỏe con người, từ đó thúc đẩy các chính sách bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu hiệu ứng sai hình nhiễm sắc thể ở tế bào lympho người dưới tác động của bức xạ ion hoá và một số hoá chất dùng trong nông nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NHIEM SAC THỂ, BỘ NHIÊM SAC THỂ NGƯỜI Các nghiên cứu sinh học phân tử cho thấy toàn bộ chiều dài các phân tử ADN của bộ gen người được qui định bởi ~3 tỷ cặp nucleotid, sắp xếp trong 22 cặp NST tương đồng và 1 cap NST giới tính [30, 48, 64]. Theo Adolph, Dupraw, Evans, Paulson, va Stubblefield thì mỗi NST do một phân tử ADN kết hợp với các phân tử protein histon và protein phihiston xoắn lại ở các mức độ khác nhau [55, 56, 64, 131]. Quá trình xoắn có thể được giải thích theo mô hình Alberts.

Chuỗi xoắn kép phân tử ADN Nhiễm sắc thể ở metaphase | _- ISEE04)0YSS960SG00 | 1400 nm Hình 1. Mô hình mô tả cấu trúc nhiễm sắc thể của Alberts. Môi NST gồm | tam dong, 2 vai (q-vai dài, p-vai ngắn), cuối mỗi vai là phân ADN lặp cấu tạo nên ving vùng đầu mút (telomere) có trình tự nucleotit TTAGGG được lặp lại nhiều lần [6, 10, 131. Khi bi mất phần vùng đầu mút thì các NST có khả nang liên kết với nhau tạo nên các sai hình NST.

Cuối các NST tâm mút còn quan sát thấy các cấu trúc độc lập gắn với NST qua eo thứ cấp, cấu trúc này được gọi là thể kèm (satellite). Hội nghị Denve, Colorado Mỹ, 1960, Hội nghị Paris, 1971, Hội nghị Basel, 1985 thống nhất sắp xếp bộ NST người thành 7 nhóm theo đặc điểm kích thước tương đối và vị trí tam động (hình 1. Nhiễm sắc thể là một cấu trúc không đồng nhất, sử dụng kỹ thuật nhuộm băng giemsa cho thấy số lượng và độ lớn các vạch bát màu có khác nhau ở các cap NST khác nhau. Ngoài kích thước tương đối và vị trí tâm động thì số lượng và độ lớn các vạch bắt màu cũng được sử dụng để phân loại các By: NSTheii mee NHHẬN ke) biểu 98, F*; I N K , 1 8 d i s |H ) onin ' om cz :C ¡m3 ta |BIMHÍN aeT18:- SE — .yy N aaa Ghee Lm — =T- a 8s mN.

8 MN = Bee ESV rae FEPEES et “nnxẾ m Bs ms” " -_ = GÀI 4 — 8 ⁄Z⁄ \ Eine: |. arebn x4 Ee —- _ = hy Sete 8G + Bier did as: a: ao = =: = ee ie a: oe ee! tn rr | | eee =: = =e 2c ss PS = 10 " 2 8 uw — 1 e E P R L = - mm. a š- _ ~ HM OU nụ t7: = == = mm: ms ess ãgR= 16 en _ 8 oH Fa op <i =a5 ¬- 8 m FSO Sp j5 | fay get aa; 106 Inkam ? _ = = wo ee mm.2: Hình thái các = NST 6 Hình 1.3: Hinh thái các cap NST theo các tiêu bản nhuộm giemsa thường[ 1§]. phương pháp nhuộm bang [122, 140].

hn Để nhận biết các cap NST khác nhau người ta còn sử dung phương pháp nhuộm FISH (Fluorescence In Situ Hybridization) [72, 139, 140, 191]. Kỹ thuật nhuộm FISH được thực hiện trên nguyên tắc lai in situ giữa NST với một phan tử ARN nhân tạo gan chất phát quang có trình tự bổ sung cho NST đó, như vậy muốn quan sát được toàn bộ bộ NST người thì phải có 24 phân tử ARN đặc hiệu gắn các chất phát quang khác nhau [196]. Các nghiên cứu phân loại bộ NST người bằng kỹ thuật nhuộm bang và nhuộm FISH của Awa, Ontaki, Kodama đều sắp xếp bộ NST người thành 7 nhóm, có tính đặc trưng phân loại của loài Homo safiens và không khác nhau ở các cộng đồng dân cư trên Thế giới, kết quả giống với Hội nghị Denve, Colorado Mỹ, 1960, Hội nghị Paris, 1971 và Hội nghị Basel, 1985 [36, 140, 142, 154, 164, 122]. SAI HÌNH NHIEM SAC THỂ 1.

Phan loai tac nhan dot bién theo co ché gay ton thuong phan tir ADN Có thể chia tổn thương phân tử ADN ra làm 2 loại: đứt gay chuỗi và các tổn thương tạo cầu liên kết. Dit gãy chuỗi là các tổn thương đặc trưng do bức xa ion hoá gây nên còn tạo cầu liên kết là các tổn thương đặc trưng do tia tử ngoại gây nên [30, 117, 128, 130, 131, 153]. Bức xạ ion hóa gây nên các đứt gãy cấu trúc của phân tử ADN ở mọi mối liên kết: giữa các nucleotit hoặc ngay trong một nucleotit, khung phân tử bazơ nitơ hoặc đường 5 carbon hoặc liên kết các thành phần trong nucleotit (30, 52, 54, 97, 118, 131]. Dit gãy chuỗi bao gồm đứt gãy 1 chuỗi polinucleotit (đứt gãy đơn - SSB) va đứt gãy cả 2 chuỗi polinucleotit (đứt gãy đôi - DSB), ngoài ra bức xạ ion hoá cũng tạo nên các tổn thương bazơ nitơ (BD) [30, 117, 130, 153, 173].

Dạng tổn thương ADN quan trọng do UV gây ra là tạo cầu liên kết đôi pyrimidine trong các vòng cyclobutane như vòng thymidine, vòng cytosine và vòng thymidine-cytosine [60]. Lippke và Franklin phát hiện thấy UV gây tổn thương phân tử pyrimidine-pyrimidone ở vị trí 6-4 của các liên kết T-C, C-C [12, 70]. Peak phát hiện thấy UV có khả năng tạo liên kết giữa ADN và protein tạo nên cầu nối ADN-protein trong tế bào [144]. UV cũng gây tổn thương 6 các phân tử emzym phục hồi làm sai lệch chức năng phục hồi tốn thương phân tử ADN [60].

Các kiểu ton thương phân tử ADN do tác động của các tác nhân dot biến được Muller, Natarajan, Obe [130, 131, 138] mô tả trên hình 1. - Mat purin (do alky! hóa) - Thêm bớt nucleotid (do acridine) Alkyl hóa (do alkyl hóa) - m)- - Tạo liên kết phức tạp (Asen. tia X) Mất pyrimidin (do alkyl hóa)- - - Đứt chuỗi đơn (do phóng xạ) - Tạo phân tử hình khối (do benzen) - Tạo cầu pyrimidin (do UV) - Tổn thương bazơ (do phóng xa) - Đứt chuỗi đôi (do phóng xa) Phosphoester (do alkyl hoá) - - Liên kết 2 chuỗi đơn (do alkyl) Liên kết ADN-Protein (do phóng - Liên kết trong chuỗi đơn (do alkyl xa va alkyl hóa) - hóa) Hình 1.4: Các kiểu tổn thương phan tử ADN do tác động của các tác nhân đột biến. Khác với bức xa ion hóa, các tác nhân đột biến hóa học gây tổn thương phan tử ADN bang các phản ứng alkyl hóa, oxi hóa, methyl hóa, khử amin hóa và khử purin hóa [13, 78, 79, 202, 203].

Bên cạnh đó một số hoá chất có khả năng gây đứt gãy đôi và đứt gãy đơn. Lawrence, Nakayama, Natarajan, Povirk gọi các hoá chất có kha năng gây đứt gay chuỗi phân tử ADN là “hoá chất bắt chước phóng xạ - radiomimetic chemical agents”. Các nghiên cứu cua Lawrence, Nakayama, Natarajan, Povirk đã phát hiện ra bleomicine, phleomicine, neocarzinostatin là những hoá chất có kha nang gây ra các đứt gãy đôi, đứt gãy đơn [125, 130, 147, 193]. Tác nhân đột biến hóa học được chia thành 2 loại: theo cơ chế tác động kiểu bức xa ion hóa và theo cơ chế tác động kiểu bức Xa tử ngoại.

Phân loại sai hình nhiễm sắc thể và cơ chế hình thành Các đứt gãy đơn và đứt gãy đôi tạo ra các đầu mút có khả năng tái liên kết với nhau (chúng tôi gọi các đầu này là “đầu dính”). Mọi kiểu sai hình nhiễm sắc thể đều được hình thành từ sự tái liên kết giữa các “đầu dính”. Sự tái liên kết giữa các mảnh NŠT có “đầu dính” do đứt gãy đôi trước pha S tạo nên các kiểu sai hình NST, sự tái liên kết các “đầu dính” do đứt gãy đơn trước pha S tạo nên các kiểu sai hình nhiễm sắc tử. Trong khuôn khổ nghiên cứu biểu hiện sai hình NST ở metapha thứ nhất ngay sau khi tế bào bị tổn thương phân tử ADN nên chúng tôi sử dụng nguyên tắc phân loại của Savage để nghiên cứu các kiểu sai hình và giải thích cơ chế hình thành chúng.

Sai hình kiểu nhiễm sắc thể (chromosome types) Sai hình NST là các kiểu sai hình xảy ra trên cả 2 nhiễm sắc tử của NST, chúng gồm các kiểu đa tâm, mảnh không tâm, vòng có tâm và không tâm, chuyển đoạn, đảo đoạn. Cơ chế tạo nên sai hình NST được giải thích trên cơ sở thuyết tái hợp (reunion theory) và thuyết trao đổi (exchange theory) các mảnh có “đầu dính” của Evans, Natarajan, Revell, Sax [130, 162, 174, 175]. Các nghiên cứu phân loại sai hình NST của Bender, Chadwick, Leendhout, Savage cũng sử dụng cơ chế tái liên kết giữa các mảnh có “đầu dính” để giải thích cơ chế hình thành các kiểu sai hình NST [30, 126, 127, 128. Sự hình thành các kiểu sai hình NST trong tế bào có các “đầu dính” không những phụ thuộc vào số lượng các đứt gãy đôi mà còn phụ thuộc vào cơ hội gặp nhau của các “đầu dính”.

Ames, Bender, Natarajan, Savage, Shigenaga cho rằng vị trí các đứt gãy đôi trên NST. số lượng đứt gãy đôi trong tế bào và xác suất xảy ra các liên kết tương hỗ giữa các mảnh có “đầu dính” có liên quan chặt chẽ với các kiểu phân loại sai hình NST [13, 30, 45, 131, 173]. Cơ chế hình thành các kiểu sai hình đa tâm, mảnh không tâm, vòng có tâm, vòng không tâm, chuyển đoạn, đảo đoạn là quá trình tái liên kết giữa các mảnh có “đầu dính” va được thực hiện theo các gia thiết đổi chỗ và nội trao đổi. Gia thiết đổi chỗ (interchange): trao đổi xảy ra theo nguyên tắc hoán vi “đầu dính” do các đứt gãy đôi trên các vai của 2 NST.

Giả thiết nội trao đổi (interachange): trao đổi xảy ra theo nguyên tắc hoán vị “đầu dính” do các đứt gãy đôi trong | NST, nội trao đổi có thể xảy ra do các tổn thương cùng vai (intra-arm intrachange) hoặc giữa các tổn thương ở 2 vai của NST (inter-arm intrachange). Trường hợp trao đổi xảy ra do các tổn thương cùng vai của 1 NST có thể là nội trao đổi giữa các tổn thương ở 2 nhiễm sắc tử hoặc giữa các tổn thương ở cùng nhiễm sắc tử của NST [173]. Cơ chế hình thành các kiểu sai hình NST theo các giả thiết Savage là: quá trình tái liên kết các “đầu dính” do | tổn thương đứt gãy đôi đơn không xảy ra sẽ tạo nên sai hình mảnh không tâm va I NST ngắn hơn, sự tái liên kết các mảnh có “đầu dính” do nhiều tổn thương đứt gãy đôi để hình thành các kiểu sai hình NST khác nhau được giải thích trên các hình 1. -_~ Trường hợp trong tế bào có | đứt gãy đôi kép trên 2 NST (hình 1.5a): Từ I DSB kép tạo thành 4 “đầu dính” Đứt gãy đôi này tạo ra 4 “đầu dính”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu hiệu ứng bức xạ ion hoá và hoá chất nông nghiệp lên sai hình nhiễm sắc thể ở tế bào lympho người là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích tác động của bức xạ ion hóa và các hóa chất nông nghiệp lên cấu trúc nhiễm sắc thể trong tế bào lympho của con người. Nghiên cứu này cung cấp những hiểu biết quan trọng về cách các yếu tố môi trường có thể ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đặc biệt là nguy cơ gây đột biến gen. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học, sinh viên và những người quan tâm đến lĩnh vực sinh học phân tử và an toàn hóa chất.

Để mở rộng kiến thức về tác động của hóa chất nông nghiệp, bạn có thể tham khảo thêm Đánh giá ảnh hưởng của một số loại thuốc bảo vệ thực vật đến nhện đỏ hai chấm tetranychus urticae koch hại đậu cove tại hà nội năm 2021 khóa luận tốt nghiệp, nghiên cứu này tập trung vào hiệu quả và tác động của thuốc bảo vệ thực vật lên sinh vật gây hại. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ bệnh hại dưa lê trong vụ xuân 2018 tại đại học nông lâm thái nguyên cũng là một tài liệu đáng đọc, cung cấp thêm góc nhìn về việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp và hiệu quả phòng trừ bệnh. Cả hai tài liệu này đều bổ sung thông tin giá trị, giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của hóa chất nông nghiệp trong các bối cảnh khác nhau.