Tổng quan nghiên cứu

Theo định hướng đổi mới và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ, đến cuối năm 2010 cả nước thực hiện cổ phần hóa khoảng 1.500 doanh nghiệp, thu hẹp quy mô khu vực kinh tế quốc doanh chỉ còn 554 doanh nghiệp nắm giữ 100% vốn nhà nước. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), tiến trình chuyển đổi sở hữu không chỉ giúp xóa bỏ những yếu kém cố hữu về công nghệ lạc hậu và năng suất lao động thấp của khu vực kinh tế nhà nước mà còn tái phân bổ nguồn vốn xã hội hiệu quả hơn. Công ty Cao su Bình Long là đơn vị thành viên nòng cốt trực thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG), thực hiện nhiệm vụ quản lý 16.000 ha vườn cây cao su tại tỉnh Bình Phước với lực lượng lao động lên tới 6.300 cán bộ công nhân viên. Dù đạt quy mô tổng tài sản thực tế xác định lại trên 1.991 tỷ đồng, công tác cổ phần hóa tại công ty gặp phải nhiều khó khăn đặc thù: giá trị vườn cây cao su chiếm tới 90% tổng tài sản, chu kỳ kinh doanh sinh học kéo dài từ 25 đến 27 năm, thị trường mủ cao su biến động phức tạp và quyền sử dụng đất nông nghiệp gắn liền tài sản chưa có phương pháp định giá chuẩn xác. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh với đề tài "Một số giải pháp hoàn thiện quá trình cổ phần hóa tại Công ty Cao su Bình Long thuộc Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam" do tác giả Phan Đình Phúc thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu nghiên cứu tập trung nhận diện những bất cập phát sinh trong thực tiễn đến hết quý 4 năm 2007, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp tài chính và quản trị để bảo toàn phần vốn nhà nước trị giá 1.183 tỷ đồng, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho 6.300 người lao động và đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc doanh nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết đổi mới doanh nghiệp nhà nước kết hợp với lý thuyết quản trị tài chính doanh nghiệp và định giá tài sản. Theo các nguyên lý quản trị kinh doanh hiện đại, việc chuyển đổi từ sở hữu nhà nước đơn nhất sang mô hình công ty cổ phần đa sở hữu giúp tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý, tạo quyền tự chủ kinh doanh và liên kết sát sườn quyền lợi vật chất của người lao động với kết quả sản xuất. Mô hình nghiên cứu phân tích toàn diện chuỗi giá trị nông nghiệp kết hợp công nghiệp chế biến mủ cao su, trong đó nhấn mạnh 5 khái niệm cốt lõi:

  • Công ty cổ phần: Doanh nghiệp có vốn điều lệ chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản trong phạm vi vốn góp và có quyền chuyển nhượng tự do.
  • Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Biện pháp chuyển đổi hình thức sở hữu nhằm huy động các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh và lành mạnh hóa tài chính quốc gia.
  • Giá trị thực tế của doanh nghiệp: Tổng giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm chuyển đổi sau khi tính đến khả năng sinh lời được các bên mua và bán chấp thuận.
  • Chu kỳ kinh doanh cây cao su: Quá trình sản xuất mang tính sinh học dài ngày với thời gian kiến thiết cơ bản từ 6 đến 7 năm và chu kỳ khai thác mủ từ 20 đến 25 năm.
  • Quyền sử dụng đất nông nghiệp trong định giá: Giá trị quyền khai thác quỹ đất gắn liền mật thiết với tài sản đầu tư trên đất trong toàn bộ vòng đời của vườn cây.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa tầng kết hợp giữa dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ năm 2001 đến quý 4 năm 2007. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo tài chính kiểm toán giai đoạn 2001-2006 của Công ty Cao su Bình Long, báo cáo hợp nhất của Tập đoàn VRG, cùng các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định 44/CP, Nghị định 109/2007/NĐ-CP và Thông tư 146/2007/TT-BTC của Bộ Tài chính. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp cán bộ điều hành và khảo sát tình hình triển khai cổ phần hóa thực tế tại cơ sở. Về cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích chuyên gia đối với 89 cán bộ quản lý tại 10 phòng ban văn phòng công ty và 120 cán bộ điều hành tại 8 nông trường trực thuộc cùng 2 nhà máy chế biến, đại diện cho tập thể 6.300 cán bộ công nhân viên. Toàn bộ 14.530 ha diện tích cao su đang khai thác và 1.470 ha cao su kiến thiết cơ bản đều được đưa vào diện khảo sát, phân tích định lượng. Phương pháp phân tích được lựa chọn là phương pháp định giá theo tài sản thuần kết hợp phân tích tài chính so sánh, thống kê mô tả chuỗi thời gian và mô hình hóa nhân quả. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì tài sản vườn cây cao su chiếm tới 90% tổng tài sản của Công ty Cao su Bình Long. Do đó, việc định giá độc lập từng thành phần tài sản gắn với chiết khấu dòng tiền kỳ vọng là phương pháp khoa học duy nhất giúp phản ánh chính xác giá trị thực tế, ngăn ngừa nguy cơ thất thoát vốn nhà nước trong quá trình thẩm định.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng sản xuất kinh doanh và hồ sơ định giá doanh nghiệp tại Công ty Cao su Bình Long đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, hiệu quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2001-2006 tăng trưởng vượt bậc: Tổng doanh thu tăng hơn 2 lần từ mức 525,7 tỷ đồng năm 2001 lên 1.076 tỷ đồng năm 2006. Lợi nhuận trước thuế tăng từ 100,2 tỷ đồng lên 415 tỷ đồng (tăng thêm 314,8 tỷ đồng, tương ứng gấp 4,14 lần). Tỷ suất lợi nhuận trên vốn nhà nước tăng mạnh từ 32% lên 115%. Mức độ hoàn thành vượt kế hoạch sản xuất kinh doanh được giao tăng liên tục từ 11% năm 2001 lên 32% năm 2006.
  • Thứ hai, năng suất vườn cây và thu nhập của người lao động được nâng cao rõ rệt: Năng suất vườn cây bình quân tăng từ 1,7 tấn/ha năm 2001 lên 2,016 tấn/ha năm 2006. Năng suất lao động tăng từ 4,481 tấn/người/năm lên 5,345 tấn/người/năm (tăng 19,3%). Thu nhập bình quân hàng tháng của 6.300 công nhân viên tăng từ 1,30 triệu đồng/tháng năm 2001 lên 5,64 triệu đồng/tháng năm 2006, tức tăng gấp 4,34 lần.
  • Thứ ba, phương pháp định giá tài sản vườn cây bộc lộ sự bất hợp lý lớn: Tổng tài sản xác định lại đạt 1.991 tỷ đồng, trong đó giá trị thực tế vốn nhà nước là 1.183 tỷ đồng. Việc tính giá trị thanh lý vườn cây theo giá bán bình quân của năm trước đó (207.000 đồng/cây tại Bình Long so với 134.000 đồng/cây tại Công ty Cao su Đồng Phú, mức chênh lệch 73.000 đồng/cây trên 3,5 triệu cây kinh doanh) đã làm giá trị doanh nghiệp bị đội lên tới 255,5 tỷ đồng. Khi so sánh giá trị còn lại bình quân trên 1 ha vườn cây khai thác, Bình Long bị định giá ở mức 46,02 triệu đồng/ha, cao hơn Công ty Cao su Phước Hòa (43,10 triệu đồng/ha) tới 2,92 triệu đồng/ha, tạo ra khoản chênh lệch lên tới hơn 41,8 tỷ đồng trên diện tích 14.274,55 ha.
  • Thứ tư, việc xác định lợi thế kinh doanh dựa trên chu kỳ 5 năm chưa phản ánh đúng bản chất: Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước bình quân 5 năm (2003-2007) của công ty đạt 58,37%, cao hơn nhiều so với lãi suất trái phiếu chính phủ 10 năm phát hành năm 2007 là 7,95%/năm. Việc lấy chu kỳ 5 năm đỉnh giá của thị trường cao su thế giới (khoảng 12 đến 15 triệu đồng/tấn) để tính giá trị vô hình khiến mức định giá bị thổi phồng, tạo rủi ro gánh nặng chi phí khấu hao lớn cho công ty cổ phần sau này.

Thảo luận kết quả

Khi đối chiếu với các đơn vị đã cổ phần hóa thành công trong Tập đoàn VRG như Công ty Cao su Hòa Bình (giá cổ phiếu HRC đạt 63.000 đồng, gấp 6,3 lần mệnh giá năm 2007), Công ty Cao su Đồng Phú (mã DPR đạt 70.500 đồng) và Công ty Cao su Tây Ninh (mã TRC đạt 77.000 đồng), kết quả cho thấy doanh nghiệp cao su sau chuyển đổi sở hữu luôn có sức hấp dẫn rất lớn trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, rào cản nhận thức tại Bình Long vẫn tồn tại khi một số cán bộ e ngại mất đi các ưu đãi độc quyền của doanh nghiệp nhà nước hoặc lo ngại thị trường chứng khoán suy giảm. Để làm rõ bức tranh tài chính, các dữ liệu được luận văn trực quan hóa qua hệ thống bảng và biểu đồ chuyên sâu:

  • Biểu đồ đường kết hợp cột mô tả tốc độ tăng trưởng doanh thu (từ 525,7 tỷ lên 1.076 tỷ đồng) và lợi nhuận (từ 100,2 tỷ lên 415 tỷ đồng), chứng minh hiệu quả vận hành tối ưu của mô hình 8 nông trường và 2 nhà máy chế biến.
  • Bảng so sánh đối sánh đa chiều giữa 4 công ty (Bình Long, Đồng Phú, Tây Ninh, Phước Hòa) vạch rõ sự bất cập khi Bình Long gánh mức định giá 46,02 triệu đồng/ha, cao hơn mức bình quân toàn ngành 43,5 triệu đồng/ha. Sự chênh lệch này xuất phát từ việc chưa tính đúng chu kỳ giá 10 năm của cao su thiên nhiên và chưa tách giá trị gỗ thanh lý ra khỏi giá trị khai thác mủ. Phát hiện này củng cố các cảnh báo của Thanh tra Chính phủ về 3 dạng sai phạm trọng yếu: kiểm kê sai hiện trạng, định giá tài sản không đúng và phân phối cổ phần ưu đãi sai đối tượng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, luận văn đưa ra 4 giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện tiến trình cổ phần hóa tại Công ty Cao su Bình Long:

  • Hoàn thiện phương pháp định giá vườn cây cao su và tách trừ giá trị thanh lý: Điều chỉnh phương pháp định giá bằng cách loại bỏ giá bán gỗ thanh lý đơn lẻ của năm trước ra khỏi nguyên giá vườn cây khai thác, áp dụng đơn giá suất đầu tư thực tế bình quân vùng. Mục tiêu hạ mức định giá bình quân vườn cây từ 46,02 triệu đồng/ha xuống mức hợp lý từ 43,0 đến 44,0 triệu đồng/ha, loại bỏ khoản chênh lệch ảo hơn 41,8 tỷ đồng trên 14.274,55 ha đất khai thác. Thời hạn thực hiện trong 30 ngày kể từ khi rà soát phương án tài chính do Ban Chỉ đạo Cổ phần hóa và Đơn vị tư vấn định giá chịu trách nhiệm.
  • Áp dụng chu kỳ 10 năm để tính giá cao su bình quân và lợi thế kinh doanh: Chuẩn hóa việc xác định tỷ suất sinh lời kỳ vọng dựa trên chu kỳ giá mủ 10 năm (thay vì 5 năm đỉnh điểm) với biên độ giá từ 12 đến 15 triệu đồng/tấn. Mục tiêu đưa tỷ suất chiết khấu dòng tiền về đúng quy luật vận động 25 năm của cây cao su, tránh nguy cơ công ty bị thua lỗ khấu hao khi giá mủ thế giới sụt giảm. Thời hạn hoàn thành trong Quý I năm 2008 do Bộ Tài chính và Tập đoàn VRG trực tiếp chỉ đạo.
  • Triển khai chính sách bán cổ phần ưu đãi minh bạch cho 6.300 người lao động: Rà soát chính xác danh sách cán bộ công nhân viên tại 8 nông trường và 2 nhà máy, bảo đảm người lao động được mua cổ phần ưu đãi giảm 40% so với giá đấu thành công theo đúng số năm công tác thực tế. Thành lập quỹ tín dụng nội bộ hỗ trợ công nhân vay vốn mua cổ phần. Thời hạn hoàn tất trong vòng 45 ngày trước Đại hội đồng cổ đông lần đầu do Công đoàn và Ban Giám đốc phối hợp thực hiện.
  • Tái cơ cấu tỷ lệ vốn nhà nước và phân định quyền sử dụng 16.000 ha đất nông nghiệp: Đề xuất hạ tỷ lệ nắm giữ vốn nhà nước bắt buộc từ mức trên 65% xuống khoảng 51% đến 60% để thu hút các nhà đầu tư chiến lược có tiềm lực công nghệ. Hoàn tất thủ tục chuyển toàn bộ diện tích 16.000 ha sang hình thức thuê đất trả tiền hàng năm theo Luật Đất đai. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2008-2010 do UBND Tỉnh Bình Phước và Tập đoàn VRG đồng chủ trì.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và tính ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Ban lãnh đạo, Hội đồng thành viên và Ban chỉ đạo cổ phần hóa tại các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước ngành nông - lâm nghiệp (như Tập đoàn VRG, Tổng công ty Cà phê, Tổng công ty Lâm nghiệp): Tài liệu cung cấp quy trình chuẩn hóa định giá tài sản sinh học trên quỹ đất quy mô lớn từ 10.000 ha trở lên và quản trị biến động nhân sự cho hơn 5.000 lao động.
  • Chuyên gia tư vấn tài chính, định giá doanh nghiệp và các tổ chức phát hành chứng khoán: Công trình cung cấp giải pháp khắc phục sự sai lệch giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của vườn cây công nghiệp dài ngày, phương pháp tính lợi thế kinh doanh theo chu kỳ 10 năm.
  • Nhà đầu tư tổ chức, quỹ đầu tư và chuyên viên phân tích tài chính: Luận văn cung cấp phương pháp phân tích cơ bản toàn diện đối với các mã cổ phiếu ngành cao su (như DPR, TRC, PHR, HRC), đặc biệt là mối tương quan giữa tỷ suất sinh lời trên vốn nhà nước (58,37%) với tiềm năng khai thác quỹ đất.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính doanh nghiệp: Tài liệu là một nghiên cứu tình huống điển hình về tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp quy mô lớn trong giai đoạn kinh tế chuyển đổi tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tại sao việc định giá vườn cây cao su lại quyết định thành bại của quá trình cổ phần hóa Công ty Cao su Bình Long? Trả lời: Vườn cây cao su chiếm tới 90% tổng tài sản của công ty trên diện tích 16.000 ha. Việc định giá sai lệch chỉ 2,92 triệu đồng/ha đã làm sai lệch giá trị doanh nghiệp hơn 41,8 tỷ đồng. Định giá quá cao sẽ tạo gánh nặng chi phí khấu hao lớn sau chuyển đổi, trong khi định giá thấp sẽ gây thất thoát nghiêm trọng phần vốn nhà nước trị giá 1.183 tỷ đồng.

Câu hỏi 2: Vì sao không nên áp dụng chu kỳ 5 năm để tính giá cao su khi xác định lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp? Trả lời: Chu kỳ khai thác cây cao su kéo dài từ 20 đến 25 năm trong khi chu kỳ biến động giá cao su thế giới khoảng 10 năm. Giai đoạn 5 năm trước cổ phần hóa có giá mủ đạt đỉnh cao (lợi nhuận 12 đến 15 triệu đồng/tấn), đẩy tỷ suất lợi nhuận sau thuế lên 58,37%. Tính lợi thế trên chu kỳ ngắn 5 năm sẽ phản ánh sai lệch kỳ vọng dòng tiền dài hạn.

Câu hỏi 3: Những kết quả kinh doanh nổi bật nào tạo tiền đề thuận lợi cho Công ty Cao su Bình Long cổ phần hóa? Trả lời: Giai đoạn 2001-2006, doanh thu công ty tăng từ 525,7 tỷ lên 1.076 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế tăng gấp 4,14 lần từ 100,2 tỷ lên 415 tỷ đồng. Năng suất vườn cây đạt 2,016 tấn/ha, năng suất lao động đạt 5,345 tấn/người/năm và thu nhập của 6.300 cán bộ công nhân viên tăng từ 1,30 triệu lên 5,64 triệu đồng/tháng.

Câu hỏi 4: Bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra từ các doanh nghiệp cao su đã cổ phần hóa trước đó là gì? Trả lời: Điển hình từ Công ty Cao su Hòa Bình, Đồng Phú và Tây Ninh cho thấy doanh nghiệp phải gắn liền vườn cây với nhà máy chế biến công suất 14.500 đến 30.000 tấn/năm. Sau cổ phần hóa, thị giá cổ phiếu các đơn vị này đều tăng gấp 6 đến 7 lần mệnh giá (HRC đạt 63.000 đồng, DPR đạt 70.500 đồng, TRC đạt 77.000 đồng), tạo kênh huy động vốn rất mạnh mẽ.

Câu hỏi 5: Giá trị quyền sử dụng 16.000 ha đất nông nghiệp được xử lý như thế nào trong phương án cổ phần hóa? Trả lời: Theo quy định tại Thông tư 146/2007/TT-BTC, toàn bộ diện tích 16.000 ha đất nông nghiệp được chuyển sang hình thức thuê đất trả tiền hàng năm với Nhà nước. Tiền thuê đất không tính gộp vào giá trị phần vốn nhà nước để tránh làm tăng vốn điều lệ ảo, bảo đảm tính hấp dẫn cho đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng.

Kết luận

Công trình nghiên cứu đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu đề ra thông qua 5 kết luận cốt lõi:

  • Cổ phần hóa là giải pháp tất yếu giúp Công ty Cao su Bình Long chuyển đổi mô hình quản trị sang công ty đa sở hữu năng động và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế.
  • Nền tảng tài chính vững chắc giai đoạn 2001-2006 với doanh thu 1.076 tỷ đồng và lợi nhuận 415 tỷ đồng là động lực then chốt bảo đảm sức hút cho đợt phát hành cổ phiếu.
  • Thẩm định giá tài sản sinh học chiếm 90% giá trị doanh nghiệp phải dựa trên chu kỳ 10 năm, loại bỏ khoản chênh lệch thanh lý ảo hơn 41,8 tỷ đồng để bảo toàn phần vốn nhà nước 1.183 tỷ đồng.
  • Chính sách phân phối cổ phần ưu đãi minh bạch và chuyển đổi phương thức quản lý 16.000 ha đất nông nghiệp là điều kiện tiên quyết bảo đảm quyền lợi cho 6.300 người lao động.
  • Lộ trình triển khai giai đoạn 2008-2010 với sự phối hợp chặt chẽ giữa Tập đoàn VRG và Tỉnh Bình Phước sẽ đưa doanh nghiệp vận hành hiệu quả theo chuẩn mực thị trường chứng khoán.

Đóng góp khoa học lớn nhất của luận văn là việc hoàn thiện phương pháp luận và công thức thực chứng định giá tài sản vườn cây công nghiệp dài ngày, giải quyết dứt điểm vướng mắc trong cổ phần hóa các nông lâm trường quốc doanh. Bước đi tiếp theo là áp dụng phương án định giá điều chỉnh vào hồ sơ chào bán và tổ chức Đại hội đồng cổ đông thành lập. Quý cơ quan quản lý, doanh nghiệp và nhà nghiên cứu có thể khai thác các luận cứ của công trình để áp dụng vào thực tiễn tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước hiện nay.