MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đối với các tỉnh trung du miền núi phía Bắc thì câu chè có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ cấu cây trồng. Cây chè giúp chống xói mòn, phủ xanh đất trống đồi trọc, tạo công ăn việc làm cho người nông dân trồng chè. Cây chè được xếp là cây dài ngày và đem lại nguồn thu nhập tương đối ổn định của người trồng chè vì mỗi năm cây chè cho thu hoạch từ 8 – 9 lứa do vậy với điều kiện thổ nhưỡng phù hợp phát triển cây chè là biện pháp đúng đắn đối với các tỉnh miền núi phía Bắc để giải quyết việc làm, tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân, góp phần thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới của các tỉnh miền núi phía Bắc Thái Nguyên là tỉnh trung du miền núi phía Bắc là một trong những tỉnh có diện tích chè lớn của cả nước, với diện tích hơn 22 nghìn ha, cây chè hiện nay đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực của tỉnh Thái Nguyên nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện đời sống người dân.
Với thổ nhưỡng phù hợp, khí hậu đặc thù, với kinh nghiệm đặc biệt của người trồng chè và bí quyết sản xuất đã tạo nên thương hiệu chè Thái Nguyên không chỉ có thương hiệu trên thị trường trong nước mà còn trên cả thị trường quốc tế. Nằm cách thành phố Thái Nguyên 13 km về phía Tây, xã Tân Cương là vùng đất bán sơn địa, nơi đây tiếp giáp với vùng núi Tam Đảo do vậy xã Tân Cương giống như một thung lũng hội tụ các luồng gió ẩm từ Đồng bằng Bắc Bộ và vùng Đông Bắc thổi tới, với địa hình chủ yếu là những dãy đồi thoai thoải về hướng mặt trời lặn, với độ cao dưới 200m. Chính với điều kiện tự nhiên này đã tạo nên chất lượng đặc biệt của vùng chè Tân Cương so với chè trồng ở các vùng khác trên cả nước [17]. Với thương hiệu chè Tân Cương nổi tiếng cả nước người trồng chè Tân Cương đã làm giàu từ sản phẩm chè với các Luan van 2 cách làm truyền thống.
Nhưng hiện nay với sự yêu cầu của thị trường ngày càng yêu cầu cao, chè làm ra không những ngon mà còn phải đảm bảo chất lượng có giấy chứng nhận của các cấp chính quyền cấp như Vietgap, Gobalgab do vậy các hộ dân trồng chè của Tân Cương đã chuyển đổi hình thức sản xuất từ sản xuất vô cơ sang sản xuất hữu cơ nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị cho sản phẩm chè. Nhằm đánh giá hiệu quả của hình thức sản xuất hữu cơ, các ưu điểm, nhược điểm của hình thức sản xuất hữu cơ tác giả đã lựa chọn đề tài “Giải pháp chuyển đổi sản xuất chè theo hướng hữu cơ trên địa bàn xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Đề tài đưa ra được một số giải pháp chuyển đổi sản xuất chè theo hướng hữu cơ trên địa bàn xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên Mục tiêu cụ thể - Phân tích thực trạng sản xuất chè trên địa bàn xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên - Phân tích được nhận thức và nhu cầu tham gia sản xuất chè hữu cơ của các hộ trồng chè trên địa bàn xã Tân Cương - Đưa ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các hộ dân trong việc chuyển từ sản xuất chè thường sang sản xuất chè hữu cơ tại xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên - Đưa ra một số đề xuất giải pháp chủ yếu để các hộ dân chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ trên địa bàn xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên. Ý nghĩa nghiên nghiên cứu đề tài 1.
Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học Đề tài có ý nghĩa trong khoa học giúp sinh viên tìm hiểu thêm các vấn đề về sản xuất nông nghiệp hữu cơ và sản xuất chè hiện nay. Ý nghĩa thực tiễn Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp chuyển từ sản xuất chè thông thường sang sản xuất chè hữu cơ nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân trồng chè trên địa bàn xã Tân Cương thành phố Thái Nguyên. Ý nghĩa đối với sinh viên Thông qua quá trình thực tập tốt , được thực tập tại UBND xã Tân Cương, đi thu thập số liệu tại các hộ dân trồng chè đã giúp cho sinh viên có cơ hội tiếp cận thực tế, có cơ hội vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã học vào thực tiễn. Đồng thời giúp sinh viên củng cố các kiến thức đã được học và học tập thêm những kiến thức kỹ năng mới.
Luan van 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ và và sản xuất an toàn 2. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ Hiện nay nông nghiệp hữu cơ đang là xu thế tất yếu của sản xuất nông nghiệp do vậy đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu có liên quan về vấn đề này.
Về cơ bản, các tài liệu đều thống nhất là: nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sinh thái hay nông nghiệp sinh học đều là một. Hiện nay có chúng ta có các khái niệm như sau: Thứ nhất: “Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất nhằm duy trì sức khỏe của đất, của hệ sinh thái và con người. Nó dựa chủ yếu vào các tiến trình sinh thái, sự đa dạng sinh học và các chu trình thích nghi với điều kiện địa phương hơn là sử dụng các yếu tố đầu vào mang theo những ảnh hưởng bất lợi. Nông nghiệp hữu cơ kết hợp phương pháp canh tác truyền thống với những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm mang lại lợi ích cho môi trường chung, thúc đẩy mối quan hệ bình đẳng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho tất cả các thành phần tham gia vào NNHC.
Thứ hai: “Là một hình thức sản xuất nông nghiệp tránh hoặc loại bỏ hoàn toàn chất hóa học như: Phân bón hóa học, thuốc trừ sâu hóa học, thuốc diệt cỏ hóa học; các chất điều tiết tăng trưởng của cây trồng; các chất phụ gia trong chăn nuôi. Do vậy nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở sử dụng các chu trình sinh học có trong tự nhiên. Hay nói một cách khác, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là một phương thức sản xuất mà trong đó các quá trình sản xuất đều tuân theo một quy luật sinh học tự nhiên vốn có của tự nhiên. Luan van 5 Nông nghiệp hữu cơ hiện nay không chỉ đơn thuần là “nền nông nghiệp không có chất hóa học” mà nó còn hội tụ đầy đủ các khía cạnh của sinh thái, xã hội và kinh tế một cách bền vững.
Như vậy nó là một dạng sản xuất bền vững của nông nghiệp hiện nay. Điều đó có nghĩa rằng, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là phương thức nhằm duy trì sự cân bằng sinh thái trong hệ thống canh tác và sử dụng nguồn vốn tài nguyên thiên nhiên vốn có theo cách bền vững với một sự chú ý đặc biệt về khía cạnh kinh tế - xã hội của sản xuất nông nghiệp. Sản xuất hữu cơ tái tạo chu trình dinh dưỡng, sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên sẵn có, đa dạng hóa là khía cạnh quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Và các đặc điểm kinh tế xã hội như an ninh, lương thực, thương mại, công bằng, tăng cường nguồn lực.
cũng là những khía cạnh rất quan trọng của sản xuất nông nghiệp hữu cơ. *Đặc điểm của Nông nghiệp hữu cơ [2]: Nông nghiệp hữu cơ có những đặc điểm sau: - Thứ nhất: Hoạt động sản xuất nông nghiệp theo phương thức tự nhiên của hệ thống sinh thái. Trong đó con người, đất đai, cây trồng và vật nuôi là các mặt trong một thể thống nhất, nó như một thể hữu cơ. - Thứ hai: Ý tưởng cơ bản của nông nghiệp hữu cơ là hoạt động kinh tế phải hài hoà với tự nhiên thiên nhiên.
Vì nếu các hoạt động nông nghiệp hữu cơ ấy nằm chệch hướng vận động của các quy luật tự nhiên thì sẽ tạo ra những hệ quả xấu và tất yếu phát triển sẽ không theo chiều hướng bền vững. - Thứ ba: Sản xuất nông nghiệp sẽ phát triển tốt trên cơ sở sử dụng và tăng cường độ phì nhiêu tự nhiên của đất đai cũng như làm tăng sức đề kháng của cây trồng và vật nuôi đối với sâu bệnh. - Thứ tư: Chăn nuôi sẽ là một hợp phần thích ứng quan trọng của nông nghiệp hữu cơ. - Thứ 5: Hệ thống không bị ảnh hưởng của việc sử dụng các nguồn lạ ngoài nông trại như: phân vôi , phân hóa học và thuốc bảo vệ thực vật.
Luan van 6 *Ưu điểm của Nông nghiệp hữu cơ[3]: Phương thức sản xuất của nông nghiệp hữu cơ là không gây ô nhiễm cho môi trường đất, nước và không khí. Vì nông nghiệp hữu cơ không, không được phép sử dụng các loại phân bón vô cơ như: Đạm, kali, thuốc bảo vệ thực vật, các chất kích thích sinh trưởng có nguồn gốc vô cơ, thức ăn chăn nuôi mà giàu chất kích thích… Sản phẩm của nông nghiệp hữu cơ an toàn cho con người sử dụng vì sản phẩm được sản xuất trong điều kiện gần với tự nhiên nên cây trồng và vật nuôi được phát triển theo quy luật tự nhiên vốn có của nó, đảm bảo an toàn cho sức khỏe của cả con người sản xuất và con người sử dụng sản phẩm đó. Sản xuất nông nghiệp hữu cơ rất đa dạng, khai thác tối đa các nguồn gen bản địa, sử dụng tối đa các yếu tố kỹ thuật tự nhiên, sẽ làm cho cảnh quan tự nhiên đa dạng, sinh động và đẹp hơn. *Hạn chế của nông nghiệp hữu cơ Khi bắt đầu chuyển đổi từ nông nghiệp thâm canh theo truyền thống sang nông nghiệp hữu cơ thì năng suất giảm từ 20 – 40% so với ban đầu.
Tuy nhiên, sau vài năm năng suất của nông nghiệp sẽ tăng dần nhưng cũng khó có thể đạt bằng năng suất của sản xuất nông nghiệp thâm canh [2]. Trong trồng trọt sản xuất nông nghiệp hữu cơ phụ thuộc rất lớn vào đất đai và thời tiết khí hậu. Vì cơ sở sinh trưởng của cây trồng trong nông nghiệp hữu cơ là đất đai, độ phì của đất sẽ quyết định đến năng suất và chất lượng sản phẩm. Mặt khác, nông nghiệp hữu cơ gần với tự nhiên, nên sự thay đổi khí hậu không theo quy luật sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng [4].
Sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ không triệt để trong phòng chống sâu bệnh và dịch bệnh.