Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước: Thực trạng và giải pháp" do sinh viên Nguyễn Thị Thu Hương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Thị Xuân Thọ tại Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 5 năm 2013). Đề tài thuộc chuyên ngành Địa lí học (định hướng Địa lí kinh tế - xã hội).
Về bối cảnh thực tiễn, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, được thể chế hóa qua 3 nghị quyết, 5 nghị định và 21 quyết định; trọng tâm là Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tiêu thụ nông sản, cùng Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị. Bình Phước là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, được tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở chia tách 5 huyện vùng cao nghèo nhất của tỉnh Sông Bé cũ. Xuất phát từ mặt bằng kinh tế thấp nhất vùng, sau thời gian kiến thiết, địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng 8–9%/năm. Nông nghiệp giữ vai trò trụ cột khi đóng góp trên 30% giá trị kinh tế toàn tỉnh, nắm giữ diện tích và sản lượng hàng đầu cả nước về cây công nghiệp lâu năm như cao su, điều, tiêu. Tuy nhiên, sự phát triển nông nghiệp của tỉnh nhìn chung vẫn chưa tương xứng với tiềm năng tài nguyên và vị thế trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Mục đích nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.
- Nghiên cứu hiện trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997–2011.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước đạt kết quả cao.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định tương ứng:
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận về chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp.
- Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội đối với sự chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và đánh giá hiện trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ cấu nông nghiệp của tỉnh Bình Phước.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung nghiên cứu: Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tập trung vào hai ngành trồng trọt và chăn nuôi; phân tích sâu biến động nội bộ ngành trồng trọt (giữa nhóm cây công nghiệp lâu năm và nhóm cây hàng năm) và ngành chăn nuôi.
- Không gian nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Bình Phước với 10 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã (thị xã Đồng Xoài, thị xã Bình Long, thị xã Phước Long và các huyện Chơn Thành, Hớn Quản, Bù Đăng, Bù Đốp, Đồng Phú, Lộc Ninh, Bù Gia Mập).
- Thời gian nghiên cứu: Phân tích thực trạng giai đoạn 1997–2011; xác định định hướng phát triển đến năm 2025.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên các khung khái niệm nền tảng của Địa lí kinh tế và Kinh tế học nông nghiệp:
- Khái niệm cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Vận dụng định nghĩa của Nguyễn Dược về sự biến đổi từng bước cấu trúc nền kinh tế theo ngành và lãnh thổ; tiếp cận chuẩn phân loại ba nhóm ngành của Liên Hiệp Quốc (Nhóm I: nông - lâm - ngư nghiệp; Nhóm II: công nghiệp - xây dựng; Nhóm III: thương mại - dịch vụ); xem xét cơ cấu theo thành phần kinh tế (nhà nước, tập thể, tư nhân, tư bản nhà nước, có vốn đầu tư nước ngoài) và cơ cấu lãnh thổ.
- Khái niệm nông nghiệp và cơ cấu nông nghiệp: Phân định nông nghiệp theo nghĩa rộng (nông - lâm - ngư nghiệp) và nghĩa hẹp (trồng trọt và chăn nuôi); phân tích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị về sản xuất hàng hóa đa dạng, nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích và thích ứng cơ chế thị trường.
- Hệ thống nhân tố tác động: Phân loại thành hai nhóm chính gồm nhân tố tự nhiên (đất đai, khí hậu cận xích đạo, nguồn nước, sinh vật) và nhân tố kinh tế - xã hội (dân cư - lao động, đường lối chính sách của Nhà nước, tiến bộ khoa học kĩ thuật, cơ sở vật chất kĩ thuật và thị trường tiêu thụ nông sản).
Quan điểm tiếp cận địa lí gồm: quan điểm hệ thống, quan điểm tổng hợp lãnh thổ, quan điểm lịch sử viễn cảnh và quan điểm phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường sinh thái cảnh quan.
Tác giả phối hợp đồng bộ 6 phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp thu thập tài liệu: Tập hợp các văn kiện, sách chuyên khảo, báo cáo thường niên và quy hoạch tổng thể của UBND tỉnh Bình Phước.
- Phương pháp thống kê: Xử lý chuỗi số liệu định lượng về kinh tế, diện tích, năng suất, cơ cấu cây trồng - vật nuôi.
- Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích tương quan giữa tiềm năng nguồn lực và tốc độ chuyển dịch qua các mốc thời gian 1997, 2000, 2005, 2010, 2011.
- Phương pháp bản đồ, biểu đồ: Chồng xếp bản đồ hành chính, bản đồ hiện trạng sản xuất nông nghiệp và biểu đồ cơ cấu nông nghiệp để nhận diện phân bố không gian.
- Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát thực tế mô hình sản xuất nông nghiệp tại một số huyện của tỉnh nhằm kiểm chứng tư liệu.
- Phương pháp dự báo: Dựa trên quy luật vận động 1997–2011 để xác lập dự báo xu hướng cơ cấu nông nghiệp đến năm 2025.
Nguồn dữ liệu sử dụng trong công trình được trích xuất từ: Niên giám Thống kê của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Bình Phước, các báo cáo tổng quan tình hình kinh tế - xã hội và tài liệu của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Phước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm về cơ cấu ngành, cơ cấu thành phần và cơ cấu vùng lãnh thổ; chỉ rõ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo nghĩa hẹp tại Việt Nam thể hiện qua xu hướng giảm tỉ trọng trồng trọt, tăng tỉ trọng chăn nuôi và chuyển dịch từ độc canh cây lương thực sang đa canh cây công nghiệp, cây ăn quả có giá trị thương mại cao.
Về mặt thực tiễn, tác giả tổng hợp số liệu chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 1997–2011: tỉ trọng trồng trọt giảm từ 73% xuống 69%, chăn nuôi tăng từ 18% lên 25%, dịch vụ nông nghiệp chiếm khoảng 5–6%. Sản lượng lương thực cả nước tăng từ 34,5 triệu tấn (năm 2000) lên 39,12 triệu tấn (năm 2011) dù diện tích lúa giảm hơn 300.000 ha. Diện tích và sản lượng cây công nghiệp xuất khẩu tăng trưởng vượt bậc: diện tích cao su tăng 9,5% (sản lượng tăng 37,6%); hồ tiêu tăng diện tích 83,2% (sản lượng tăng 87,8%); điều tăng diện tích 44,3% (sản lượng tăng 205,3%).
Chương 1 cũng phân tích thực tiễn chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tại hai địa phương lân cận trong vùng Đông Nam Bộ:
- Tỉnh Bình Dương: Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng bình quân 5,9%/năm; cơ cấu nội bộ nông nghiệp năm 2011 chuyển biến rõ rệt với trồng trọt chiếm 71,9% và chăn nuôi tăng lên 28,1% (so với mức 79% và 21% năm 2005); tỷ lệ che phủ cây lâu năm đạt 55%; 77% diện tích cây lâu năm được cơ giới hóa làm đất và chăm sóc; 80% trang trại chăn nuôi ứng dụng hệ thống làm mát và máng ăn tự động.
- Tỉnh Đồng Nai: Nhóm cây lâu năm chiếm 65% diện tích gieo trồng năm 2011, cây hàng năm chiếm 35%. Tỉ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế giảm mạnh từ 65,1% (năm 1976) xuống 13,7% (năm 2005). Toàn tỉnh hình thành hơn 113.000 ha cây công nghiệp lâu năm (cao su 41.490 ha chiếm 36,7%, điều 41.000 ha chiếm 36,3%, cà phê 22.167 ha chiếm 19,6%, hồ tiêu và cây khác 8.350 ha chiếm 7,4%) cùng gần 47.200 ha cây ăn trái.
Từ thực tiễn trên, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm cho Bình Phước: chuyển từ độc canh cây lương thực sang chuyên canh cây công nghiệp lâu năm, gắn sản xuất nguyên liệu với công nghiệp chế biến sâu, hình thành mạng lưới chăn nuôi tập trung quy mô công nghiệp và ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào giống cây trồng.
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước
Chương 2 tập trung khảo sát toàn diện địa bàn nghiên cứu. Tỉnh Bình Phước có diện tích tự nhiên 6.855,9 km² (lớn nhất vùng Đông Nam Bộ, chiếm 29,9% diện tích toàn vùng và 2,1% diện tích cả nước). Dân số trung bình năm 2011 đạt 915.006 người, mật độ 132 người/km², với 40 dân tộc cùng sinh sống (dân tộc Kinh chiếm 81%, dân tộc S’tiêng chiếm 9%).
Về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên:
- Địa hình: Dạng địa hình cao nguyên lượn sóng ở phía Bắc và Đông Bắc (độ cao 300–600 m tại Bù Đăng, Phước Long), đồi thấp lượn sóng thoải dần về phía Tây và Tây Nam (độ cao 100–300 m). Quỹ đất có độ dốc dưới 15° chiếm khoảng 90% diện tích đất tự nhiên, rất thuận lợi cho quy hoạch vùng chuyên canh cây công nghiệp quy mô lớn và cơ giới hóa sản xuất.
- Khí hậu: Mang tính chất nhiệt đới cận xích đạo gió mùa, nền nhiệt ổn định 25,8–26,5°C; giờ nắng trung bình 2.400–2.500 giờ/năm; lượng mưa trung bình 2.110–2.500 mm/năm. Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 11) tập trung 85–90% lượng mưa; mùa khô sâu sắc kéo dài gây thiếu nước tưới nghiêm trọng.
- Thủy văn: Mạng lưới gồm 4 hệ thống sông lớn: sông Bé, sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và sông Măng. Sông Bé tập trung bậc thang thủy điện và thủy lợi lớn: Thác Mơ (150 MW), Cần Đơn, Srok Phu Miêng và công trình thủy lợi Phước Hòa. Hồ Dầu Tiếng trên sông Sài Gòn với diện tích mặt nước 20.000 ha, dung tích 1,5 tỉ m³ cấp nước tưới cho sản xuất.
- Thổ nhưỡng: Tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh theo số liệu thống kê năm 2011 đạt 687.392,6 ha; trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 626.609,4 ha (91,16%), đất phi nông nghiệp 59.618,3 ha (8,68%), đất chưa sử dụng 1.164,9 ha (0,16%). Chất lượng đất vượt trội với nhóm đất bazan màu mỡ và đất xám phù hợp với cây công nghiệp dài ngày.
- Tài nguyên rừng: Diện tích đất lâm nghiệp đạt 350.353 ha (chiếm 51,1% diện tích tự nhiên), diện tích đất có rừng thực tế là 167.340 ha (rừng gỗ tự nhiên 49.454 ha, tre nứa 39.238 ha, rừng hỗn giao 39.126 ha, đất đồi núi trọc 26.248 ha).
| Chỉ tiêu thống kê cơ bản |
Giá trị ghi nhận |
| Diện tích tự nhiên toàn tỉnh |
6.855,9 km² (hoặc 687.392,6 ha) |
| Tỉ lệ diện tích so với vùng Đông Nam Bộ |
29,9% |
| Dân số trung bình năm 2011 |
915.006 người |
| Mật độ dân số |
132 người/km² |
| Dân số trong độ tuổi lao động (15–59 tuổi) |
687.000 người (chiếm gần 65% dân số) |
| Tỉ lệ lao động khu vực I (Nông - Lâm - Thủy sản) |
75,4% |
| Tỉ lệ lao động khu vực II (Công nghiệp - Xây dựng) |
7,9% |
| Tỉ lệ lao động khu vực III (Dịch vụ) |
16,7% |
| Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo |
21% |
| Tỉ lệ hộ dân sử dụng điện lưới |
96% |
| Đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã |
10 đơn vị (3 thị xã, 7 huyện) |
| Đơn vị hành chính cấp xã, phường, thị trấn |
111 đơn vị (92 xã, 14 phường, 5 thị trấn) |
Về thực trạng chuyển dịch: Nông nghiệp Bình Phước dịch chuyển theo hướng mở rộng tối đa nhóm cây công nghiệp lâu năm có giá trị xuất khẩu cao (cao su, điều, tiêu, cà phê), thu hẹp dần tỉ trọng cây lương thực hàng năm kém hiệu quả. Tuy nhiên, chuyển dịch còn đối mặt với các thách thức: nguồn nước tưới mùa khô thiếu hụt nghiêm trọng, mùa mưa dễ ngập úng cục bộ ven sông suối; chất lượng lao động thấp (60% chỉ có trình độ học vấn cấp II); mạng lưới giao thông dù có trục Quốc lộ 13 và Quốc lộ 14 (Xa lộ Bắc Nam) nhưng giao thông liên vùng thủy - sắt chưa phát triển; công nghiệp chế biến sâu chưa phát triển tương xứng, giá cả nông sản phụ thuộc vào biến động thị trường.
Chương 3: Định hướng phát triển và giải pháp chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước đến năm 2025
Trên cơ sở các nghị quyết phát triển nông nghiệp của Đảng, quy hoạch sử dụng đất đai và nhu cầu thị trường nông sản trong nước lẫn quốc tế, tác giả xây dựng định hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước đến năm 2025 gắn liền với các nhóm giải pháp:
- Khoa học kĩ thuật và công nghệ: Đưa vào sản xuất các bộ giống mới kháng bệnh, năng suất cao; áp dụng kỹ thuật thâm canh, cơ giới hóa khâu làm đất, chăm sóc và thu hoạch; triển khai rộng rãi mô hình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM); nâng cao công nghệ chế biến và bảo quản sau thu hoạch cho các nông sản xuất khẩu chủ lực (mủ cao su, hạt điều, tiêu).
- Tổ chức sản xuất và quản lý: Củng cố kinh tế trang trại; đổi mới hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp sang cung ứng dịch vụ đầu vào và tiêu thụ nông sản hàng hóa; thu hút doanh nghiệp đầu tư chế biến nông sản tại nông thôn.
- Phát triển kết cấu hạ tầng: Tăng cường hệ thống công trình thủy lợi, tận dụng nguồn nước từ các hồ thủy điện (Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phu Miêng) và hồ thủy lợi Phước Hòa để giải quyết khô hạn mùa khô; nâng cấp mạng lưới giao thông nội đồng, hệ thống điện phục vụ tưới tiêu.
- Chính sách đất đai: Thực hiện nhất quán Luật Đất đai, hoàn thành công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất giao rừng để nông dân yên tâm đầu tư dài hạn vào vườn cây công nghiệp.
- Dịch vụ khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư: Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật trực tiếp đến các hộ nông dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện vùng sâu như Bù Gia Mập, Bù Đăng, Bù Đốp.
- Chính sách tài chính và tín dụng: Mở rộng nguồn vốn vay ưu đãi với thời hạn phù hợp chu kỳ kinh doanh của cây công nghiệp lâu năm; đơn giản hóa thủ tục thế chấp tài sản gắn liền với đất.
- Thúc đẩy thị trường tiêu thụ nông sản: Xây dựng thương hiệu nông sản Bình Phước, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, thiết lập chuỗi liên kết giữa nông hộ, hợp tác xã và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu.
- Huy động nguồn lực: Khai thác các thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài) để đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng nông nghiệp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Số liệu định lượng phản ánh thực trạng: Hệ thống hóa chuỗi chỉ số địa lí kinh tế của tỉnh Bình Phước giai đoạn 1997–2011: tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì 8–9%/năm; tỉ trọng lao động nông nghiệp chiếm 75,4% tổng lao động; đất dùng cho nông nghiệp đạt 626.609,4 ha (chiếm 91,16% quỹ đất toàn tỉnh); xác lập rõ cơ cấu diện tích đất lâm nghiệp 350.353 ha với 167.340 ha đất có rừng.
- Hệ thống giải pháp ứng dụng: Đề xuất 8 nhóm giải pháp đồng bộ từ khoa học kĩ thuật, thủy lợi hóa vùng khô hạn, giao đất giao rừng, tín dụng nông nghiệp đến tổ chức chuỗi tiêu thụ sản phẩm, bám sát các đặc thù về sinh thái cảnh quan và kinh tế nông thôn Bình Phước.
- Đóng góp học thuật: Đây là một trong những công trình địa lí kinh tế đầu tiên phân tích chuyên sâu và có hệ thống về thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2011. Trước đó, các nghiên cứu trên địa bàn chỉ dừng lại ở phạm vi báo cáo thống kê thường niên hoặc quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội chung của các sở, ban, ngành, chưa có công trình nào tổng hợp dưới góc nhìn cấu trúc lãnh thổ nông nghiệp hoàn chỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn về thời gian và nguồn lực của một khóa luận tốt nghiệp đại học, phạm vi khảo sát thực địa của tác giả chỉ dừng lại ở một số huyện trọng điểm mà chưa bao quát đồng bộ toàn bộ 10 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã. Nguồn số liệu phân tích trong công trình phụ thuộc vào báo cáo tổng hợp cấp tỉnh và niên giám thống kê, chưa đi sâu điều tra xã hội học định lượng ở quy mô nông hộ để đánh giá chi tiết biên lợi nhuận của từng loại cây trồng.
Hướng nghiên cứu mở rộng cần tập trung: cập nhật số liệu chuỗi thời gian sau năm 2011; đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ thủy văn các lưu vực sông Bé, sông Sài Gòn ảnh hưởng tới mùa vụ nông nghiệp; nghiên cứu sâu chuỗi giá trị và cơ chế liên kết vùng giữa Bình Phước với trung tâm chế biến, tiêu thụ lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tư liệu học thuật hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Địa lí, Địa lí học, Địa lí kinh tế - xã hội và Kinh tế nông nghiệp tham khảo về cấu trúc bài nghiên cứu địa lí địa phương, phương pháp kết hợp bản đồ - biểu đồ với thống kê kinh tế.
- Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nông nghiệp tại địa phương khi tìm kiếm tài liệu đối chiếu về các giai đoạn phát triển nông nghiệp của tỉnh Bình Phước từ mốc tái lập tỉnh năm 1997 đến năm 2011.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 với hệ thống số liệu phân loại thổ nhưỡng, thủy văn, hiện trạng dân cư - lao động và các phân tích so sánh kinh nghiệm thực tiễn từ Bình Dương và Đồng Nai tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của tỉnh Bình Phước tính đến năm 2011 có đặc điểm gì nổi bật?
Tính đến năm 2011, lực lượng lao động của tỉnh Bình Phước vẫn tập trung chủ yếu ở khu vực I (nông - lâm - ngư nghiệp) với tỉ lệ lên tới 75,4%. Khu vực II (công nghiệp - xây dựng) chỉ chiếm 7,9% và khu vực III (dịch vụ) chiếm 16,7%. Tỉ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 21%, và khoảng 60% lực lượng lao động có trình độ văn hóa cấp II.
2. Điều kiện địa hình của tỉnh Bình Phước có thuận lợi gì cho sản xuất nông nghiệp?
Bình Phước có địa hình dạng cao nguyên và đồi thấp lượn sóng nhẹ với độ cao tuyệt đối từ 100–300 m và 300–600 m. Đất có độ dốc dưới 15° chiếm khoảng 90% tổng diện tích đất tự nhiên, tạo mặt bằng tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi để hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp tập trung quy mô lớn và ứng dụng cơ giới hóa sản xuất.
3. Khó khăn tự nhiên lớn nhất đối với sản xuất nông nghiệp tỉnh Bình Phước được tác giả xác định là gì?
Khó khăn lớn nhất là tính phân hóa sâu sắc của khí hậu cận xích đạo: mùa khô kéo dài gây thiếu nước tưới nghiêm trọng cho cây trồng và nước sinh hoạt (đặc biệt vùng phía Bắc Bù Đốp ít mưa, sản xuất bấp bênh); trong khi đó, mùa mưa tập trung lượng mưa lớn vào các tháng 9–10 gây ngập úng cục bộ ở các thung lũng ven sông suối nếu thiếu hệ thống tiêu nước.
4. Khóa luận rút ra bài học kinh nghiệm gì từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai cho chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Bình Phước?
Từ Đồng Nai, khóa luận rút ra bài học về việc chuyển dịch mạnh mẽ diện tích lúa kém hiệu quả sang trồng cây công nghiệp lâu năm (chiếm 65% diện tích cây trồng năm 2011) với các cây chủ lực gồm cao su (41.490 ha), điều (41.000 ha), cà phê (22.167 ha), hồ tiêu; kết hợp phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm quy mô công nghiệp gắn liền với hệ thống nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi chất lượng cao.
5. Cơ sở dữ liệu và phạm vi không gian nghiên cứu của khóa luận được giới hạn như thế nào?
Khóa luận nghiên cứu trên phạm vi không gian gồm 10 đơn vị hành chính cấp huyện/thị xã của tỉnh Bình Phước (gồm 3 thị xã: Đồng Xoài, Bình Long, Phước Long và 7 huyện: Chơn Thành, Hớn Quản, Bù Đăng, Bù Đốp, Đồng Phú, Lộc Ninh, Bù Gia Mập). Dữ liệu được thu thập chính thức từ Cục Thống kê Bình Phước, Tổng cục Thống kê và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bình Phước giai đoạn 1997–2011.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Thu Hương đã khái quát toàn diện cơ sở lí luận và bức tranh thực trạng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp tỉnh Bình Phước trong giai đoạn 1997–2011. Dựa trên việc phân tích mối tương quan giữa điều kiện tự nhiên đất bazan, địa hình lượn sóng với nguồn lao động nông thôn dồi dào, tác giả đã làm rõ bước chuyển từ sản xuất nông nghiệp phân tán sang chuyên môn hóa cây công nghiệp lâu năm. Hệ thống giải pháp đề xuất đến năm 2025 có tính khả thi, gắn liền với thủy lợi hóa, chuyển giao kỹ thuật và liên kết thị trường tiêu thụ. Công trình là tài liệu tham khảo học thuật có giá trị tư liệu về địa lí kinh tế địa phương tỉnh Bình Phước.