Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều kiện lao động trên các tàu vận tải viên dương 1. Khái niệm về các loại hình vận tải biển và vận tải biển viễn dương Vận tải biển là hoạt động chuyên chở hàng hoá bằng đường biển. Đây là một trong những loại hình vận tải ra đời sớm nhất của ngành vận tải (bao gồm vận tải đường bộ, đường sắt, đường không và đường biển).
Do đặc tính ưu việt của nó là khả năng chuyên chở với số lượng lớn hàng hoá, giá thành rẻ, với 7 phần 10 diện tích trái đất là biển nên các tàu chở hàng có thể đến được bất cứ cảng nào và bất cứ châu lục nào. Căn cứ vào loại hình hàng hoá mà nó chuyên chở, phạm vi của tuyến đường biển mà tàu hoạt động Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO) [87], [88] chia ra các loại hình vận tải biển như sau: Phân loại theo loại hàng hoá mà nó chuyên chở [153], bao gồm: tàu chở hàng bách hoá, tàu chở hàng rời, tàu chở container, tàu Roro, tàu chở chất lỏng, tàu chở gỗ, tàu chở hàng hoá đông lạnh, tàu chở khách, tàu đánh bắt thủy sản, tàu dịch vụ hỗ trợ… Phân loại theo loại tuyến đường vận tải mà tàu hoạt động bao gồm: Vận tải thuỷ nội địa: là loại hình vận tải theo các tuyến đường biển trong nước, nơi xếp hàng hoá để khởi hành và nơi trả hàng (điểm đến) thường là các cảng nội địa của các địa phương. Vận tải biển gần (cận hải): là loại hình vận tải có thời gian hành trình trên biển từ vài ngày đến 1 tuần trên biển như tuyến vận tải Đông Nam Á, các tỉnh phía Nam Trung quốc. Vận tải biển viễn dương (World-wide): là loại hình vận tải của những con tàu có trọng tải lớn nhất từ vài vạn tấn đến vài chục vạn tấn hàng hoá, có thể đi luan an 4 lại trên mọi tuyến hàng hải quốc tế và có thể cập cảng ở tất cả các đại dương trên thế giới.
Đặc điểm của tuyến vận tải này là thời gian một chuyến hành trình thường dài trung bình khoảng 1 năm, thời gian tàu chạy liên tục trên biển không có khả năng cập cảng kéo dài nhất là 40 - 45 ngày, thời gian này tàu hoàn toàn cô lập với đất liền. Trong trường hợp khẩn cấp tàu không có thể ghé cảng gần nhất trong trong thời gian ngắn nhất, nên rủi ro khi bị ốm đau, bệnh tật hoặc tai nạn là rất lớn [57], [69], [95], [107], [123].2 Về thuyền viên và đội tàu vận tải viễn dương Tàu viễn dương là những tàu có trọng tải lớn (thường vào khoảng > 1 vạn tấn/tàu) và phạm vi hoạt động rộng khắp trên mọi đại dương của trái đất. Hiện nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển, ngành công nghiệp đóng tàu cũng áp dụng nhiều kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để cho hạ thủy nhiều con tàu có đủ tiêu chuẩn chất lượng và đảm bảo an toàn khi hành trình trên biển trong điều kiện thời tiết, khí hậu khắc nghiệt, gió, giông bão của đại dương. Với điều kiện môi trường tự nhiên, môi trường vi khí hậu, vi xã hội và các yếu tố vật lý, hóa học như ồn, rung, lắc và nhịp điệu đơn điệu, buồn tẻ diễn ra cả ngày lẫn đêm trong 4 bức tường của con tàu là những yếu tố không thể tách rời đối với mỗi thuyền viên.
Nó liên tục diễn ra ngày cũng như đêm hầu như trong suốt mỗi chuyến hành trình, thậm chí là suốt cả cuộc đời của người đi biển. Chính việc phải sống và lao động trong điều kiện đặc thù như vậy sẽ làm phát sinh một số bệnh lý có tính chất đặc thù - là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, rút ngắn tuổi nghề và tuổi đời của người đi biển. Công ty cổ phần vận tải biển Việt Nam (VOSCO - nằm trên địa bàn thành phố Hải Phòng), công ty VITRANSCHART (Chi nhánh tại HP). là các công ty vận tải viễn dương hàng đầu Việt Nam có đội tàu khá hùng hậu, có khả năng vận chuyển hàng hóa trên mọi tuyến hàng hải quốc tế và có thâm niên cao nhất ngành hàng hải nước ta.
Theo thống kê ban đầu, mỗi công ty có khoảng trên luan an 5 1000 thuyền viên, trong đó có khoảng 600 - 700 thuyền viên đang hoạt động thường xuyên trên biển, số còn lại là lực lượng dự trữ để thay đổi. Trong đó, công ty VOSCO hiện đang khai thác nhiều tuyến hàng hải quốc tế với đội tàu cốt lõi của VOSCO bao gồm 4 tàu cỡ Supramax (có trọng tải lên tới 56.472 tấn), 4 tàu Handysize dùng để chở hàng rời và 2 tàu chờ dầu hiện đại hai vỏ thế hệ mới với trọng tải 47.000 tấn mỗi chiếc và hoạt động trên phạm vi toàn thế giới. Đội tàu được vận hành bởi những thuyền viên đã qua đào tạo bài bản, có kinh nghiệm cũng như các chứng chỉ quốc tế, cộng với việc luôn thực hiện tốt mỗi hợp đồng vận chuyển nên có thể đáp ứng được yêu cầu của tất cả các nhà kinh doanh hàng đầu. Công ty VITRANSCHART cũng là một trong những Công ty hàng đầu của cả nước chuyên kinh doanh trong lĩnh vực vận tải.
Đội tàu hiện tại của Công ty gồm 13 tàu chở hàng bách hóa, trong đó có 09 con tàu hàng khô cỡ lớn hiện đại có trọng tải cao nhất lên đến 24,000 tấn cùng đội ngũ hơn 800 sỹ quan thuyền viên giỏi kỹ năng và giàu kinh nghiệm sẵn sàng đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng của khách hàng. Điều kiện môi trường lao động trên tàu viễn dương Lao động trên tàu biển là một trong những lao động mang tính nghề nghiệp đặc biệt. Suốt thời gian hoạt động trên biển, tàu vừa là nơi lao động, phương tiện lao động, đồng thời cũng là nơi ở, sinh hoạt, vui chơi giải trí. Vì vậy thuyền viên phải chịu đồng thời nhiều tác động của môi trường trên tàu đến sức khoẻ của họ [53], [79], [87].
Những tác động đó không chỉ trong lúc lao động mà ngay cả lúc nghỉ ngơi, thậm chí cả trong giấc ngủ, 24/24 giờ trong ngày và từ ngày này sang ngày khác. Những yếu tố đó bao gồm: 1. Môi trường vi khí hậu trên tàu Môi trường vi khí hậu gồm các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió. Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn và thường xuyên đến sức khoẻ của thuyền viên.
luan an 6 Người ta thường sử dụng chỉ số Yaglou hay chỉ số Tam Cầu (WBGT) để phản ánh tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và đưa ra mối quan hệ và tiêu chuẩn giới hạn cho từng loại cường độ lao động theo thời gian [3], [62] như sau: Bảng 1. Giới hạn chỉ số Yaglou Giới hạn chỉ số Yaglou Thời gian LĐ LĐ nhẹ LĐ vừa LĐ nặng 8 giờ LĐ liên tục 30,0 26,7 25,0 50% LĐ và 50% nghỉ 31,4 29,4 27,9 25% LĐ, 75% nghỉ 33,2 31,4 30,0 Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì nếu lao động vừa trong 8 giờ thì chỉ số nhiệt độ không được vượt quá 26,70C [91]. Khi lao động trong môi trường nóng có thể dẫn tới sự mất nước, điện giải, mệt mỏi, giảm khả năng lao động, nặng hơn có thể dẫn tới say nóng đe doạ đến tính mạng. Trên các tàu đi biển, hiện nay mặc dù đã được đầu tư cải tạo rất nhiều, các phòng sinh hoạt chung, phòng ở đã được thông gió và lắp đặt hệ thống điều hòa, nhưng vẫn có những khu vực rất nóng, trong đó có khu vực buồng máy.
Nhiệt độ trên tàu biển Theo nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước (như Trần Thị Quỳnh Chi [8], Nguyễn Thị Hải Hà [22], Lê Hoàng Lan [25], Nguyễn Trường Sơn [35]) cũng như ngoài nước (Bogdan Jaremin [62], Sigurd W.), nhiệt độ trong buồng máy của tàu biển thường xuyên ở ngưỡng rất cao, có thể lên đến 400C. Với các tàu không có hệ thống điều hoà không khí, nhiệt độ trong khoang tàu luôn cao hơn ở ngoài boong, nhất là vào mùa hạ; còn đối với những tàu có điều hoà không khí, chênh lệch nhiệt độ giữa trong và ngoài tàu lại ngược lại. luan an 7 Sự chênh lệch nhiệt độ khá cao giữa buồng máy với các vị trí khác trên tàu, giữa trong và ngoài tàu, cộng thêm việc người lao động thường xuyên phải di chuyển đến các vị trí khác nhau trên tàu làm cho quá trình điều nhiệt luôn phải thay đổi, trong khi cơ thể lại khó thích nghi hơn với môi trường có nhiệt độ luôn thay đổi, nên dễ phát sinh nhiều loại bệnh lý như các bệnh đường hô hấp, trạng thái mệt mỏi, say nóng. Thông gió trên các tàu biển Các tàu biển thuộc đội tàu quốc gia hiện nay đang được hiện đại hoá theo các Công ước hàng hải quốc tế, do đó về cơ bản tiêu chuẩn thông gió trên các con tàu này đều đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép.
Vấn đề này rất quan trọng, nhất là đối với các lao động làm việc trong buồng máy, nơi nhiệt độ và độ ẩm cao kết hợp với hơi xăng dầu càng làm ảnh hưởng nhiều đến sức chịu đựng và khả năng làm việc của người lao động [48], [80], [90], [142]. Độ ẩm không khí trên tàu Các tàu vận tải lớn nói chung do có hệ thống điều hoà không khí khá đảm bảo nên độ ẩm tương đối ổn định. Trái lại, các loại tàu nhỏ, lạc hậu hoặc các tàu cá chỉ có thông gió tự nhiên nên ẩm độ tuỳ thuộc hoàn toàn vào môi trường tự nhiên của biển [62]. Các yếu tố vật lý Tiếng ồn Trong y học lao động người ta phân loại âm thanh theo tần số như sau [39], [126]: - Âm thanh có tần số dưới 300 Hz: gọi là âm tần số thấp - Âm thanh có tần số từ 300 - 1000 Hz: gọi là âm tần số trung bình - Âm thanh có tần số trên 1000 Hz: gọi là âm tần số cao luan an 8 Đây là vấn đề nan giải nhất trên các loại tàu biển hầu như không thể khắc phục được mà những người lao động biển chỉ còn cách phải chung sống.
Các nghiên cứu về ô nhiễm tiếng ồn trên các tàu biển cho thấy: ngay cả khi tàu ở trong cảng chỉ có các máy đèn hoạt động thì mức độ ô nhiễm tiếng ồn cũng lên đến ≥ 85dBA, nhiều chỗ đã vượt tiêu chuẩn cho phép (trên 85 dBA) [8], [15], [22], [46]. Trong khi hành trình trên biển tàu phải chạy tất cả các máy chính thì tiếng ồn còn cao hơn nhiều lần và diễn ra liên tục suốt ngày đêm.