Chương 1: Mở dau. Chương 2: Tổng quan. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Phân tích số liệu.
Chương 5: Dé xuất giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu, cải thiện mức độ stress. Chuong 6: Kết luận và kiến nghi. HVTH: Nguyễn Ngọc Nghĩa — 12080302 Luận văn thạc sĩ 7 GVHD: PGS. Luu Truong Văn CHUONG 2: TONG QUAN 2.
Tổng quan về stress 2. Dinh nghĩa stress Hiện nay chưa có một định nghĩa chính xác về stress được đưa ra. Ở Mỹ, Viện quốc gia về sức khỏe nghề nghiệp và an toan (1999) đã định nghĩa stress liên quan tới công việc là những phản ứng về mặt thể chất hoặc cảm xúc xảy ra khi yêu cầu công việc không phù hợp với kha năng, nguồn lực hay nhu cầu của người lao động. Stress liên quan tới công việc có thé dẫn tới tình trạng sức khỏe yếu, thậm chi là chan thương.
Ở Anh, Ủy ban y tế và an toàn đã định nghĩa stress là phản ứng của con người khi phải chịu đựng áp lực hoặc các yêu cầu khác quá lớn với họ. Năm 2008 tổ chức Comeare của chính phủ Úc đã định nghĩa stress do công việc là một dạng căng thăng, trạng thái cảm xúc tiêu cực, kích thích và xảy ra có liên quan tới công việc (Love et al, 2009). Theo Cox, 1993 stress thường được coi là một cảm giác chủ quan của các cá nhân khi mà đòi hỏi của công việc hoặc cuộc sống vượt qua niềm tin vào bản thân hoặc khả năng giải quyết của họ (An et al, 2013), (Love et al, 2009). Lazarus, 1991 đã cung cấp một khái niệm mà xem stress do công việc là một quá trình, liên quan đến tương tác giữa cá nhân và môi trường làm việc của họ.
Stress có tính chu kỳ va lặp lại, có khả năng ảnh hưởng đến hệ quả trong tương lai băng cách tăng cường hoặc làm suy giảm khả năng đối phó với stress của cá nhân. Trong trường hợp diễn ra liên tục hoặc nghiêm trọng, stress có thể dẫn đến bệnh tâm thần do ảnh hưởng lâu dài của nó. Lazarus và folkman, 1984 đã định nghĩa trạng thái stress là trạng thái đe dọa hoặc có hại cho các cá nhân mà họ nghĩ rằng họ không thê kiếm soát hoặc điều khiến được (Love et al, 2009). Humphy, 1998 định nghĩa stress liên quan tới công việc là sự mâu thuẫn giữa cá nhân và môi trường làm việc của ho (Love et al, 2009).
Về mặt tâm lý, có nhiều khái niệm về stress. Sự thay đôi của môi trường sống tạo ra một phản ứng của cơ thé, sự thay đổi này chính là yếu tố gây stress (stressor). HVTH: Nguyễn Ngọc Nghĩa — 12080302 Luận văn thạc sĩ 8 GVHD: PGS. Luu Truong Van Su phản ứng dé thích nghi với hoàn cảnh này có thé gọi là sự căng thắng tâm lý hay stress.
Cac dang stress va tac hại của stress 2. Cac dang stress Stress cap tinh (acute stress): xây ra khi cá nhân phải đối mặt với những tinh huống tác động mạnh đến tinh thần. Đó là những tình huống gây sang chan tâm lý rất mạnh và có thé dẫn đến nhiều hậu quả nặng né. Ngay sau khi gặp chan thương, cá nhân đó sé gap các rỗi loạn tâm ly: chét lang, mat cảm xúc, mat nhận thức về xung quanh và bản thân mình.
Stress cấp tính có thể ngay sau khi xảy ra kích thích hoặc một thời gian lâu sau đó. Người bị stress luôn trong tình trạng hoang mang, lo lang quá mức, khó tập trung chú ý, buồn bã, mat hết các hứng thú và sở thích vốn có, khó ngủ, hay cáu gat, luôn có cảm giác tội lỗi, dé bị kích động, thậm chi có ý định tự sát. Mức độ của stress cấp phụ thuộc vào tính chất của yếu tố gây kích thích và khả năng đối phó của cá nhân. Theo thời gian, các triệu chứng trên có thể giảm dần và biến mất, tuy nhiên cũng có nhiều trường hợp cần phải tiễn hành điều trị (Suckhoedoisong, 2011).
Stress mãn tinh (chronic stress): là những căng thăng xảy ra với cá nhân từ ngảy này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Stress mãn tính là những áp lực về nhu cầu và diễn ra dường như dài vô tận trong khi cá nhân lại không thể tìm được lỗi thoát (American Psychological Association, 2014). Các tác nhân gây ra stress mãn tính có thê là áp lực công việc, hoc tap, áp lực từ gia đình, tiền bạc, vấn đề sức khỏe. Các nhân tố nay xảy ra thường xuyên và không được giải quyết thỏa đáng nên gây ra những tác hại to lớn tới thé chất và tinh thần của con người.
Các triệu chứng của stress mãn tính có thể khác nhau như: lo âu, mệt mỏi, đau cơ, tăng huyết áp, thiếu ngủ và khó tập trung. Stress kéo dài còn có thể gây ra các tác hại to lớn về sức khỏe như: đau tim, đột quy, tự tử, ung thư. Những người gặp phải stress thường có xu hướng bỏ qua, phot lờ hoặc chịu đựng nó. Ngoài ra, dựa trên cấp độ có các dang stress như sau: căng thang quá mức (overstress), ít căng thăng (understress).
Hơn nữa, không phải tất cả các stress đều có hại cho con người, có stress có lợi (eustress) và stress có hại (distress). Ở một HVTH: Nguyễn Ngọc Nghĩa — 12080302 Luận văn thạc sĩ 9 GVHD: PGS. Luu Truong Van mức độ nao đó stress (eustress) là cần thiết cho cuộc sống, nó tạo ra động cơ, thách thức đòi hỏi con người phải huy động các nguồn lực để vượt qua và tiếp tục tôn tại, hoàn thiện mình hơn. Nhưng ở một số trường hợp stress vượt quá ngưỡng nảo đó sẽ trở nên nguy hiểm, thậm chí dẫn đến cái chết vì cơ thé không thể thích ứng, không thể vượt qua được.
Tac hại cua stress Cơ thể : Tư đuy Co giật cơ bắp Cơ bắp căng thắng Da dễ kích ứng Dễ mắc bệnh lây nhiễm ip thở không ôn định Mệt mỏi, ôm Tác hại của Ác mộng Mật niêm tin STRESS Dé tai nan Quan trong hoa van dé Giam ngon miéng Dé cau kinh Giảm hứng thú tinh dục Chán nản Mất ngủ Ho hing, lãnh dam | Hút thuôc nhiêu hơn Chán ghét Bôn chôn, hôi hộp Cảm xúc Esợ.sợhãi |Uông nhiêuh Hành vi Hình 2. Tác hại cua stress. Nguồn: stress — sự căng thăng (Thetamtri, 2013). Tuy nhiên, stress cũng có mặt tích cực: phản ứng của cơ thể trước tác động của stress có tác dung tăng sức dé kháng va khả năng thích nghi của cơ thé, giúp co thể trở nên mạnh mẽ hơn, ngày càng hoàn thiện hơn.
Stress ở mức độ vừa phải có thé giúp con người tập trung hơn và có động lực dé phan đấu. Khi không có áp lực thường sẽ không có được sự nỗ lực hết mình và dễ dàng phạm sai lầm. Sự thoải mái quá mức trong công việc có thé dẫn tới sự chủ quan, dé mắc sai lầm. Stress ở mức độ vừa phải có thể tăng cường khả năng sáng tạo, tăng năng lượng và hiệu quả trong công việc, giúp con người có thể đạt được những bước tiến trong sự nghiệp.
Mối liên hệ giữa mức độ stress và sự thực hiện công việc được mô tả ngắn gon trong hình 2.2 dưới đây: HVTH: Nguyễn Ngọc Nghĩa — 12080302 Luận văn thạc sĩ 10 GVHD: PGS. Lưu Trường Van A Muc do toi ưu YU oh nee S3 8| Mức độ | Mức do i thap | cao or | = g | Giai quyét van dé || Giai = | hợp lý | quyết. = | Sang tao | vân dé | Théa man ị kém Chán nan i ; hop ly. Met moi : | Kiệt sức Mức độ stress Hình 2.
Mối liên hệ hình chữ U ngược giữa stress và sự thực hiện công việc. Nguồn: (Yerkes and Dodson, 1908;. ) trích dẫn bởi (Leung et al, 2006). Phan ứng của cơ thé với stress Hội chứng thích nghỉ chung: được dua ra bởi bác sỹ Hans Selye.
Đó là phản ứng sinh lý của co thé khi đối mặt với một sự đe dọa nguy hiểm, gồm 3 giai đoạn: «_ Giai đoạn báo động - cảnh báo: giai đoạn này được bắt đầu bang trang thái sốc. Đây là một tình huống mat cân bang về hoạt động chức năng khiến cơ thé rơi vào tinh trạng dé ton thương. Các hoạt động tâm lý được tăng cường, đặc biệt là quá trình tập trung chú ý, ghi nhớ và tư duy. Các chức năng sinh lý của cơ thể cũng được tăng cường: tăng huyết áp, nhịp tim, nhịp thở.
Giai đoạn nảy xảy ra nhanh, từ vai phút đến vài giờ, vài ngày. Người bị stress có thé bị chết trong giai đoạn nay nếu yếu tô gây stress quá mạnh. Nếu vượt qua được sẽ chuyển sang giai đoạn thích nghi. e Giai đoạn thích nghi (chỗng đỡ): sức dé kháng của cơ thé tăng lên, con người có thé làm chủ tình huống stress.
Nếu kha năng thích ứng cao, các chức năng tâm sinh lý của cơ thể được phục hồi. Ngược lại, quá trình phục hồi sẽ không xảy ra và cơ thể chuyển sang giai đoạn kiệt quệ. HVTH: Nguyễn Ngọc Nghĩa — 12080302 Luận văn thạc sĩ 11 GVHD: PGS. Luu Truong Van e Giai doan kiét qué: néu stress tiép tục kéo dai cơ thé sẽ đến lúc kiệt quệ.
Sự bực bội, tram cảm có thé xuất hiện. Phản ứng với stress trở thành bệnh lý khi tình huống stress bất ngờ và vượt quá kha năng thích nghi của cơ thé. Trong giai đoạn này, các biến đối tâm sinh lý ở giai đoạn báo động xuất hiện trở lại. Hơn nữa, các chứng bệnh bắt dau xuất hiện và có nguy cơ dẫn đến tử vong (Stress, 2014), (An et al, 2013).
Richard Lazarus, 1966 đã xây dung một ly thuyết về cách con người đối phó với tình huỗng căng thang. Ông cho răng cách đối phó rất khác nhau và phụ thuộc rất nhiêu vào nhận thức tình huỗng của mỗi người. Và ông chia 2 cách đối diện với căng thăng dựa trên nhận thức tình huống khác nhau: e Cách |: tập trung vào đôi diện với van dé - tập trung vào tình huỗng stress để loại bỏ tác nhân gây stress. Có các phương pháp đối phó như sau: cô găng né tránh các sự việc có thể gây stress, thay đôi hoàn cảnh hoặc chấp nhận, thay đôi ban thân và thích nghi với các yếu tô nay.
e Cách 2: tập trung vào đối diện với cảm xúc — làm moi cách dé dịu bớt sự căng thăng, nghỉ ngơi, giải trí nhiêu hơn, làm nhiều việc để tránh sự căng thăng nhưng không làm gi để giải quyết van dé. Người bị stress có thé bị vướng vào các hành động không tôt cho sức khỏe như: uống rượu bia nhiêu, ngủ nhiêu, bỏ ăn, xem tivi quá nhiều, sử dụng thuốc, ma túy, cách ly bản thân khỏi mọi người xung quanh, trút bỏ stress lên người khác (cau gặt, giận dữ, bao luc.