ĐẶT VẤN ĐỀ Tại Việt Nam, nhà thuốc trong cộng đồng là một trong những nơi đầu tiên người dân dễ dàng tiếp cận khi có vấn đề về sức khỏe. Có thể nói, nhà thuốc đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân. Chiến lược phát triển ngành Dược của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) và Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế đã chỉ ra xu hướng của hoạt động thực hành dược là hướng tới việc sử dụng thuốc trên người bệnh được an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế trong đó thực hành dược trong cộng đồng đóng một vai trò quan trọng [3]. Theo TCYTTG, dược sĩ cộng đồng là các chuyên gia y tế dễ tiếp cận nhất với người dân.
Ngoài việc đảm bảo cung cấp chính xác, phù hợp các sản phẩm, dược sĩ cộng đồng còn đảm trách các hoạt động chuyên môn bao gồm: tư vấn cho bệnh nhân theo đơn thuốc và thuốc không kê đơn, thông tin thuốc cho các nhân viên y tế, bệnh nhân và cộng đồng nói chung, và tham gia vào các chương trình tăng cường sức khỏe. Dược sĩ cộng đồng duy trì liên kết với các nhân viên y tế khác trong chăm sóc sức khỏe ban đầu [42]. Do đó, công việc của dược sĩ cộng đồng đòi hỏi rất cao về kiến thức và kỹ năng nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và quản lý bệnh của bệnh nhân một cách tối ưu [10]. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao và yêu cầu chăm sóc dược tại nhà thuốc ngày càng gia tăng của người bệnh/khách hàng, áp lực trong công việc với người bán lẻ thuốc là không thể tránh khỏi.
Việc xuất hiện các áp lực gây ra mức độ căng thẳng cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả và chất lượng công việc của người bán lẻ thuốc (NBT) trong việc chăm sóc và tư vấn cho người bệnh [34]. Sự căng thẳng trong công việc có thể dẫn đến sự mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả mãn với công việc, gia tăng ý định nghỉ việc và gián tiếp làm giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh [38]. Có nhiều tài liệu cho rằng các chuyên gia y tế trải qua mức độ căng thẳng trong công việc cao khi nhu cầu công việc vượt quá khả năng đáp ứng của họ. Nhiều nghiên cứu ở phương Tây đã xác định căng thẳng là một yếu tố dẫn đến hiệu quả công việc kém, mức độ hài lòng trong công việc thấp và các vấn đề sức khỏe cá nhân [13].
Chính vì vậy, rất nhiều nghiên cứu về căng thẳng trong công việc của NBT đã được thực hiện tại các quốc gia trên thế giới [9], [20], [34]. Một số nghiên cứu đã chỉ ra mức độ căng thẳng trong công việc của NBT tại các quốc gia trên thế giới là rất khác nhau. Tại Northern Ireland, điểm căng thẳng trung bình của dược sĩ cộng đồng đạt 94,66/165 điểm, họ cảm thấy căng thẳng nhất khi đối mặt với tình huống bị điện thoại hoặc người khác làm gián đoạn khi đang thực hiện nhiệm vụ công việc (3,98/5,00); khối lượng công việc quá nhiều (3,72/5,00); không đủ nhân sự (3,54/5,00) [25]. Nghiên cứu thực hiện ở Malaysia cho thấy mức độ căng thẳng của dược sĩ ở mức trung bình với điểm căng thẳng trung bình là 1,86 ± 0,44 trên thang 4 điểm [20].
1 Nhiều yếu tố căng thẳng liên quan đến công việc của dược sĩ đã được báo cáo, đặc biệt là NBT, bao gồm sự công nhận trong công việc, trách nhiệm tư vấn cho người bệnh, những mâu thuẫn trong công việc và thiếu chắc chắn về chuyên môn [9], [20], [24], [25], [34]. Đối với các NBT tại Mỹ, mức độ căng thẳng trong công việc có liên quan đến trình độ của NBT [26]. Trong khi đó tại Malaysia, căng thẳng công việc bị ảnh hưởng đáng kể bởi tuổi tác, số năm kinh nghiệm và số giờ làm việc/tuần [34]. Tại Việt Nam, nghiên cứu về sự căng thẳng trong công việc của NVYT bắt đầu được quan tâm từ cuối những năm 2000 [4], [5], [6].
Nghiên cứu của Lê Thành Tài và cộng sự (2008) tiến hành trên đối tượng là 40 điều dưỡng viên đang công tác tại BV đa khoa huyện Châu Thành - Hậu Giang cho kết quả tỷ lệ stress của điều dưỡng là 32,5% [4]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Tần (2012), thực hiện trên 136 NVYT tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang cho thấy có tới 75,7% các NVYT thỉnh thoảng stress, trong đó 14,7% các NVYT rơi vào tình trạng stress thường xuyên [8]. Tuy nhiên, theo rà soát y văn của chúng tôi cho thấy chưa có nghiên cứu nào được thực hiện trước đây quan tâm về trạng thái tâm lý nói chung của người bán lẻ thuốc và mức độ căng thẳng trong công việc của người bán lẻ thuốc nói riêng. Trước bối cảnh số lượng nhà thuốc tại Hà Nội đang ngày càng gia tăng, với việc chuỗi nhà thuốc hiện đại đang tăng tốc giành thị phần từ các nhà thuốc truyền thống, dẫn đến áp lực cạnh tranh giữa các nhà thuốc nói chung và NBT nói riêng ngày càng lớn.
Điều này có thể khiến cho những sự căng thẳng trong công việc của NBT gia tăng. Trước bối cảnh trên, đề tài “Đánh giá sự căng thẳng (stress) liên quan đến công việc của người bán lẻ thuốc tại một số nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội” được thực hiện với hai mục tiêu sau: 1. Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến sự căng thẳng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2023. Đánh giá mức độ căng thẳng (stress) của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2023.
Hoạt động của nhà thuốc và công việc của người bán lẻ thuốc 1. Một số khái niệm Người bán lẻ thuốc (NBT): là người phụ trách chuyên môn về dược và nhân viên làm việc tại cơ sở bán lẻ thuốc có bằng cấp chuyên môn được đào tạo về dược phù hợp với loại hình và phạm vi hoạt động của cơ sở [1]. Người quản lý trực tiếp nhà thuốc (NQLTTNT): được sử dụng trong nghiên cứu với ý nghĩa là người trực tiếp quản lý và vận hành các hoạt động của nhà thuốc. Theo quy định, người quản lý trực tiếp nhà thuốc là người phụ trách chuyên môn về dược.
Tuy nhiên, thực tế người quản lý trực tiếp nhà thuốc có thể là người phụ trách chuyên môn về dược hoặc chủ đầu tư (là người đầu tư kinh doanh và vận hành các hoạt động của nhà thuốc, có vai trò quyết định chính trong việc thực hiện các tiêu chuẩn GPP). Bán lẻ thuốc là hoạt động chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm việc cung cấp, bán lẻ thuốc trực tiếp đến người sử dụng thuốc kèm theo việc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng [1]. Hoạt động tại nhà thuốc theo quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn GPP Nhà thuốc là một cơ sở kinh doanh dược đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chất lượng và điều kiện kinh doanh theo các nghị định, quy chế, văn bản pháp luật như Luật Dược số 105/2016/QH13 [7], Nghị định số 54/2017/NĐ-CP [2]. Bên cạnh đó, hoạt động của các nhà thuốc cần phải tuân thủ theo thông tư số 02/2018/TT-BYT về các quy định về thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc do Bộ Y tế ban hành.
Theo thông tư số 02/2018/TT- BYT yêu cầu về các hoạt động của nhà thuốc như sau [1]: * Mua thuốc [1] - Nguồn thuốc được mua tại các cơ sở kinh doanh thuốc hợp pháp. - Có hồ sơ theo dõi, lựa chọn các nhà cung cấp có uy tín, đảm bảo chất lượng thuốc trong quá trình kinh doanh; - Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành (thuốc có số đăng ký hoặc thuốc chưa có số đăng ký được phép nhập khẩu). Thuốc mua còn nguyên vẹn và có đầy đủ bao gói của nhà sản xuất, nhãn đúng quy định theo quy chế hiện hành. Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ của thuốc mua về; - Khi nhập thuốc, người bán lẻ kiểm tra hạn dùng, kiểm tra các thông tin trên nhãn thuốc theo quy chế ghi nhãn, kiểm tra chất lượng (bằng cảm quan, nhất là với các thuốc dễ có biến đổi chất lượng) và có kiểm soát trong suốt quá trình bảo quản; * Bán thuốc [1] - Các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc, bao gồm: • Người bán lẻ hỏi người mua những câu hỏi liên quan đến bệnh, đến thuốc mà người mua yêu cầu; 3 • Người bán lẻ tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùng thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bằng lời nói.
Trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, Người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cách viết tay hoặc đánh máy, in gắn lên đồ bao gói. • Người bán lẻ cung cấp các thuốc phù hợp, kiểm tra, đối chiếu với đơn thuốc các thuốc bán ra về nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc. • Thuốc được niêm yết giá thuốc đúng quy định và không bán cao hơn giá niêm yết. - Các quy định về tư vấn cho người mua, bao gồm: • Người mua thuốc cần nhận được sự tư vấn đúng đắn, đảm bảo hiệu quá điều trị và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng; • Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn; • Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên khoa thích hợp hoặc bác sĩ điều trị; • Đối với những người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, nhân viên bán thuốc cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệu chứng bệnh; • Không được tiến hành các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc tại nơi bán thuốc trái với quy định về thông tin quảng cáo thuốc; khuyến khích người mua coi thuốc là hàng hóa thông thường và khuyến khích người mua mua thuốc nhiều hơn cần thiết.
- Bán thuốc theo đơn, thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc: • Khi bán các thuốc theo đơn phải có sự tham gia trực tiếp người bán lẻ có trình độ chuyên môn phù hợp và tuân thủ theo các quy định, quy chế hiện hành của Bộ Y tế về bán thuốc kê đơn. • Người bán lẻ phải bán theo đúng đơn thuốc.