Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tại Việt Nam, cơ sở bán lẻ thuốc trong cộng đồng là một trong những điểm tiếp cận y tế đầu tiên và thuận tiện nhất của người dân khi phát sinh các nhu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu. Theo định hướng chiến lược của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế (FIP), thực hành dược cộng đồng đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế. Dược sĩ cộng đồng không chỉ chịu trách nhiệm cung ứng thuốc chính xác mà còn đảm nhiệm các hoạt động chuyên môn phức tạp như tư vấn đơn thuốc và thuốc không kê đơn, cung cấp thông tin thuốc, tham gia các chương trình tăng cường sức khỏe và kết nối với mạng lưới y tế cơ sở.

Tuy nhiên, áp lực công việc đối với người bán lẻ thuốc (NBT) ngày càng gia tăng dưới tác động của sự thay đổi mô hình bệnh tật, nhu cầu chăm sóc dược ngày một khắt khe từ khách hàng và sự bùng phát phức tạp của các dịch bệnh như COVID-19. Tại Hà Nội, sự cạnh tranh thị phần gay gắt giữa các chuỗi nhà thuốc hiện đại và hệ thống nhà thuốc truyền thống độc lập càng làm tăng thêm gánh nặng công việc. Tình trạng căng thẳng (stress) nghề nghiệp kéo dài có thể dẫn đến mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, giảm mức độ hài lòng công việc, gia tăng ý định nghỉ việc và trực tiếp làm suy giảm chất lượng tư vấn, chăm sóc người bệnh.

Trong khi các nghiên cứu quốc tế tại Mỹ, Bắc Ireland, Malaysia, Palestine hay Ả Rập Xê Út đã phân tích sâu về căng thẳng của dược sĩ cộng đồng, thì tại Việt Nam, các đề tài về stress nhân viên y tế trước đây chỉ tập trung vào khối bệnh viện (như nghiên cứu của Lê Thành Tài năm 2008 trên điều dưỡng tại Hậu Giang với tỷ lệ stress 32,5%; nghiên cứu của Nguyễn Trung Tần năm 2012 tại Tiền Giang ghi nhận 75,7% nhân viên y tế thỉnh thoảng bị stress). Chưa có nghiên cứu nào đánh giá có hệ thống về thực trạng tâm lý và mức độ stress nghề nghiệp của người bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc cộng đồng.

Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ của sinh viên Điêu Diễm Quỳnh (Khoa Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội, năm 2023) với đề tài "Đánh giá sự căng thẳng (stress) liên quan đến công việc của người bán lẻ thuốc tại một số nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội" được triển khai nhằm thực hiện hai mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến sự căng thẳng của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2023.
  2. Đánh giá mức độ căng thẳng (stress) của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2023.

Đối tượng nghiên cứu là người bán lẻ thuốc (bao gồm người phụ trách chuyên môn về dược và nhân viên có bằng cấp chuyên môn về dược phù hợp) đang làm việc tại các nhà thuốc trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghiên cứu thực hiện chọn mẫu tại 10 quận: Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Ba Đình, Thanh Xuân, Đống Đa, Cầu Giấy, Tây Hồ, Long Biên và Hà Đông. Thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 03 đến tháng 04 năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận khái niệm căng thẳng liên quan đến công việc theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): là phản ứng của cá nhân khi đối mặt với những yêu cầu và áp lực công việc không tương xứng với kiến thức, năng lực và thách thức khả năng ứng phó của bản thân. Đồng thời, nghiên cứu phân biệt rõ giữa áp lực công việc thông thường (tạo động lực theo quan điểm của Viện Quốc gia An toàn và Sức khỏe Nghề nghiệp Hoa Kỳ - NIOSH) và tình trạng stress quá mức gây tổn hại sức khỏe tâm thần, thể chất.

Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động chuyên môn của người bán lẻ thuốc được tác giả hệ thống hóa qua:

  • Luật Dược số 105/2016/QH13;
  • Nghị định số 54/2017/NĐ-CP;
  • Thông tư số 02/2018/TT-BYT của Bộ Y tế quy định về Thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc (GPP), bao gồm các quy chuẩn nghiêm ngặt về mua và kiểm soát chất lượng thuốc, bảo quản thuốc, quy trình bán thuốc kê đơn/không kê đơn, tư vấn sử dụng thuốc và xử lý thuốc khiếu nại, thu hồi.

Về công cụ đo lường, tác giả tổng quan ba bộ công cụ quốc tế tiêu biểu:

  1. Bộ công cụ đánh giá căng thẳng rút gọn ASSET (Faragher và cộng sự; Johnson & Cooper 2003): đo lường 4 phần (nhận thức công việc, thái độ đối với tổ chức, sức khỏe, thông tin bổ sung) nhưng bị hạn chế do tính thương mại và bản quyền.
  2. Bảng câu hỏi Mất cân bằng Nỗ lực - Phần thưởng ERI rút gọn 16 mục (Siegrist và cộng sự 2004, 2016): đo lường nỗ lực, phần thưởng và cam kết quá mức, song còn hạn chế về tính hiệu lực nội dung đối với nhân viên nhà thuốc.
  3. Bộ câu hỏi đánh giá Sự căng thẳng của nhân viên y tế HPSI (Health Professions Stress Inventory do Wolfgang xây dựng năm 1988): gồm 30 biến quan sát thuộc 4 nhóm nhân tố gốc (Sự công nhận trong công việc; Những mâu thuẫn trong công việc; Trách nhiệm tư vấn cho người bệnh; Thiếu chắc chắn về chuyên môn). HPSI được tác giả lựa chọn làm nền tảng để hiệu chỉnh và phát triển bộ công cụ phù hợp với điều kiện thực tế tại Hà Nội.

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, phối hợp phương pháp định tính và định lượng qua 4 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1: Tổng quan tài liệu và phỏng vấn sâu 03 người bán lẻ thuốc có kinh nghiệm, chức danh và vị trí đa dạng nhằm điều chỉnh các biến quan sát, hình thành bộ công cụ dự thảo.
  • Giai đoạn 2: Thử nghiệm bộ công cụ dự thảo lần 2 trên 10 người bán lẻ thuốc để hiệu chỉnh câu từ, cách diễn đạt, xây dựng bảng hỏi khảo sát gồm 38 biến quan sát.
  • Giai đoạn 3: Khảo sát thực địa trên diện rộng, kiểm định độ tin cậy nhất quán nội bộ bằng hệ số Cronbach's alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA (trích Principal Axis Factoring - PAF với phép quay Varimax).
  • Giai đoạn 4: Phân tích thống kê mô tả điểm căng thẳng theo thang Likert 5 mức độ (0: Không căng thẳng đến 4: Luôn luôn căng thẳng); áp dụng kiểm định phi tham số Mann-Whitney và Kruskal-Wallis để xác định mối liên quan giữa các đặc điểm nhân khẩu học với điểm stress chung (mức ý nghĩa p < 0,05).

Tiêu chuẩn lựa chọn mẫu: Người bán lẻ thuốc đang trực tiếp làm việc tại các nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội, có mặt tại thời điểm khảo sát và đồng ý tham gia. Tiêu chuẩn loại trừ gồm: người từ chối tham gia; sinh viên, người đang học việc; người bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc bệnh viện và phòng khám. Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu thuận tiện, 4 điều tra viên được tập huấn đã tiếp cận 559 người bán lẻ thuốc, thu về 404 phiếu khảo sát hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 72,27%), vượt cỡ mẫu tối thiểu theo quy tắc phân tích EFA (tỷ lệ 5:1, tương ứng 38 x 5 = 190 mẫu).

Nội dung chính theo từng chương

Hoạt động của nhà thuốc và công việc của người bán lẻ thuốc. Sự căng thẳng (stress) của người bán lẻ thuốc với công việc tại nhà thuốc (Chương 1)

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ và các tiêu chuẩn GPP của cơ sở bán lẻ thuốc theo Thông tư 02/2018/TT-BYT. Tác giả phân định rõ 5 nhóm nghiệp vụ thường quy của người bán lẻ thuốc: mua và kiểm soát chất lượng thuốc; bán thuốc, thông tin và tư vấn sử dụng; bảo quản, theo dõi chất lượng; xử lý thuốc khiếu nại hoặc thu hồi; và các hoạt động hành chính, vệ sinh, quản lý thuốc kiểm soát đặc biệt.

Chương 1 tổng quan các mô hình lý thuyết về stress nghề nghiệp và tổng hợp kết quả của 6 nghiên cứu quốc tế sử dụng thang đo HPSI tại Mỹ (Munger 2013, N=303), Jordan (Al Khalidi 2013, N=235), Palestine (Sirhan 2021, N=554), Bắc Ireland (McCann 2009, N=776), Ả Rập Xê Út (Suleiman 2015, N=394) và Malaysia (Teong 2019, N=286). Điểm chung từ y văn quốc tế cho thấy "Trách nhiệm tư vấn cho người bệnh" luôn là nguồn gây căng thẳng hàng đầu của dược sĩ cộng đồng. Đồng thời, chương trình bày bối cảnh địa bàn Hà Nội với 8,33 triệu dân (năm 2022), hơn 4.000 quầy thuốc, 120 nhà thuốc bệnh viện, tạo nên môi trường kinh doanh dược phẩm có tính cạnh tranh và áp lực nghề nghiệp cao.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu (Chương 2)

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình nghiên cứu 4 giai đoạn, định nghĩa các biến số quan sát và cấu trúc công cụ đo lường. Thang đo thử nghiệm ban đầu gồm 38 biến thuộc 4 nhóm nhân tố HPSI. Tác giả thiết lập tiêu chí phân loại mức độ căng thẳng dựa trên điểm số trung bình thang Likert 5 mức độ (từ 0 đến 4 điểm):

  • 0,0 – 0,5 điểm: Không căng thẳng
  • 0,5 – 1,5 điểm: Căng thẳng mức độ nhẹ

  • 1,5 – 2,5 điểm: Căng thẳng mức độ trung bình

  • 2,5 – 3,5 điểm: Căng thẳng mức độ nặng

  • 3,5 – 4,0 điểm: Căng thẳng mức độ rất nặng

Quy trình thu thập dữ liệu được số hóa qua biểu mẫu Google Form trên thiết bị di động/iPad hoặc quét mã QR. Các tiêu chuẩn kiểm định thống kê được xác lập chặt chẽ: thang đo đạt độ tin cậy khi Cronbach's alpha > 0,6; hệ số tương quan biến tổng (Corrected Item - Total Correlation) >= 0,3; phân tích EFA yêu cầu KMO > 0,5, kiểm định Bartlett có p < 0,05, Eigenvalue > 1, hệ số tải nhân tố (Factor Loading) >= 0,5 và tổng phương sai trích > 50%. Khía cạnh đạo đức nghiên cứu được đảm bảo qua giấy giới thiệu từ Trường Đại học Dược Hà Nội, quyền từ chối trả lời và cam kết bảo mật danh tính tuyệt đối.

Kết quả nghiên cứu và bàn luận (Chương 3)

Chương 3 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực địa từ 404 đối tượng và các thảo luận chuyên môn liên quan.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Nữ giới chiếm ưu thế tuyệt đối với 91,8% (371 người), nam giới chiếm 8,2% (33 người). Độ tuổi dưới hoặc bằng 30 chiếm 70,5% (tuổi trung bình 28,96 ± 6,498). Thâm niên công tác dưới hoặc bằng 5 năm chiếm 63,6% (kinh nghiệm trung bình 5,70 ± 4,928 năm). Trình độ chuyên môn dưới đại học chiếm 68,3% (276 người), trình độ đại học chiếm 31,7% (128 người). Vị trí làm việc gồm 75,0% nhân viên và 25,0% người quản lý trực tiếp nhà thuốc. 65,6% làm việc tại nhà thuốc độc lập và 34,4% thuộc chuỗi nhà thuốc. Về thời gian làm việc, 45,3% làm việc trên 8 giờ/ngày, 46,3% làm đúng 8 giờ/ngày (trung bình 9,66 ± 2,893 giờ/ngày). Có 93,3% nhà thuốc từng chịu thanh tra kiểm tra ít nhất 1 lần trong năm qua. 97,3% người tham gia thường xuyên thực hiện hoạt động bán và tư vấn thuốc.

Kết quả kiểm định và tinh lọc thang đo:

  • Kiểm định Cronbach's alpha ban đầu đạt 0,943. Sau khi đánh giá tương quan biến tổng, 3 biến bị loại do làm tăng hệ số alpha của nhóm nếu loại bỏ: B6 ("Quan tâm đến tâm tư của người bệnh"), C6 ("Giám sát/phối hợp công việc của/với đồng nghiệp"), D9 ("Ứng phó với các vấn đề phát sinh không lường trước được").
  • Thực hiện EFA qua 3 lần xoay nhân tố, tiếp tục loại 7 biến do hệ số tải < 0,5: A9, B1, B5, B7, B8, C5, D8.
  • Thang đo chính thức còn lại 28 biến quan sát được rút trích thành 6 nhóm nhân tố với tổng phương sai trích đạt 62,843%, hệ số Cronbach's alpha tổng thể đạt 0,931.
Nhóm nhân tố chính thức Số biến Mã biến cấu thành Hệ số tải Factor Loading
1. Thiếu chắc chắn về chuyên môn 7 D1, D2, D3, D4, D5, D6, D7 0,522 – 0,826
2. Những mâu thuẫn trong công việc 8 C1, C2, C3, C4, C9, C10, C11, C12 0,560 – 0,701
3. Sự công nhận trong công việc 6 A3, A4, A5, A6, A7, A8 0,520 – 0,742
4. Trách nhiệm tư vấn cho người bệnh 3 B2, B3, B4 0,728 – 0,780
5. Lương thưởng, phát triển 2 A1, A2 0,724 – 0,736
6. Xung đột với đồng nghiệp, quản lý 2 C7, C8 0,791 – 0,804

Đánh giá mức độ căng thẳng: Điểm trung bình căng thẳng chung toàn diện là 1,12 ± 0,600 trên thang điểm 4, thuộc mức căng thẳng nhẹ. Trong 6 nhóm nhân tố, "Trách nhiệm tư vấn cho người bệnh" dẫn đầu với điểm trung bình 1,80 ± 0,828 (mức trung bình), kế tiếp là "Những mâu thuẫn trong công việc" (1,33 ± 0,815) và "Lương thưởng, phát triển" (1,30 ± 0,979). Ba nhóm có điểm thấp nhất gồm "Sự công nhận trong công việc" (0,95 ± 0,767), "Thiếu chắc chắn về chuyên môn" (0,80 ± 0,663) và "Xung đột với đồng nghiệp, quản lý" (0,75 ± 0,788). Biến gây căng thẳng đơn lẻ cao nhất trong toàn bộ khảo sát là B2 - "Phải đối mặt với những bệnh nhân/khách hàng khó tính" (2,24 ± 0,967), tiếp đến là C12 - "Không có thời gian nghỉ ngơi trong các dịp đặc biệt như ngày lễ, ngày Tết" (1,91 ± 1,374) và B3 - "Khó khăn khi phải giải đáp với những phàn nàn/thắc mắc của khách hàng" (1,78 ± 1,029).

Mối liên quan nhân khẩu học: Phân tích thống kê chỉ ra 3 yếu tố có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ căng thẳng chung (p < 0,05):

  • Trình độ chuyên môn: Nhóm có trình độ đại học có điểm stress cao hơn có ý nghĩa so với nhóm dưới đại học (1,23 ± 0,581 so với 1,08 ± 0,604; p = 0,010).
  • Thời gian nhà thuốc hoạt động: NBT tại các nhà thuốc hoạt động dưới hoặc bằng 6 năm chịu căng thẳng cao hơn cơ sở hoạt động trên 6 năm (1,18 ± 0,571 so với 1,04 ± 0,635; p = 0,014).
  • Số lượng nhân viên làm việc: Nhà thuốc có từ 2 nhân viên trở lên ghi nhận mức độ căng thẳng cao hơn nhà thuốc chỉ có 1 nhân viên (1,15 ± 0,598 so với 0,99 ± 0,597; p = 0,042).
  • Các biến số khác gồm giới tính (p=0,051), tuổi tác (p=0,349), tình trạng hôn nhân (p=0,360), vị trí công tác (p=0,392), mô hình nhà thuốc độc lập hay chuỗi (p=0,619), số năm kinh nghiệm (p=0,848), thu nhập (p=0,574), số giờ làm việc (p=0,684), lượng khách hàng (p=0,938) và số lần thanh tra (p=0,853) đều không ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm toàn diện về mức độ căng thẳng và các khía cạnh tạo áp lực cụ thể lên người bán lẻ thuốc trên địa bàn Hà Nội năm 2023:

Thứ hạng Nhóm nhân tố gây căng thẳng Điểm trung bình (TB ± SD) Mức độ phân loại
1 Trách nhiệm tư vấn cho người bệnh 1,80 ± 0,828 Trung bình
2 Những mâu thuẫn trong công việc 1,33 ± 0,815 Nhẹ
3 Lương thưởng, phát triển 1,30 ± 0,979 Nhẹ
4 Sự công nhận trong công việc 0,95 ± 0,767 Nhẹ
5 Thiếu chắc chắn về chuyên môn 0,80 ± 0,663 Nhẹ
6 Xung đột với đồng nghiệp, quản lý nhà thuốc 0,75 ± 0,788 Nhẹ
-- Điểm căng thẳng chung trong công việc 1,12 ± 0,600 Nhẹ

Đóng góp khoa học và thực tiễn của khóa luận:

  • Là công trình tiên phong tại Việt Nam khảo sát và lượng hóa mức độ căng thẳng trong công việc của người bán lẻ thuốc tại các nhà thuốc cộng đồng.
  • Xây dựng, thẩm định và chuẩn hóa thành công thang đo stress nghề nghiệp cho người bán lẻ thuốc gồm 28 biến quan sát phân bố trên 6 nhóm nhân tố (tách 2 nhân tố mới là "Lương thưởng, phát triển" và "Xung đột với đồng nghiệp, quản lý" từ 4 nhóm gốc của bộ công cụ HPSI) với hệ số Cronbach's alpha đạt 0,931 và phương sai trích giải thích được 62,843% biến thiên.
  • Xác định điểm nghẽn áp lực lớn nhất của người bán lẻ thuốc nằm ở hoạt động giao tiếp và tư vấn trực tiếp cho khách hàng (đặc biệt là khách hàng khó tính với điểm TB = 2,24) và sự hạn chế thời gian nghỉ ngơi trong các dịp lễ, Tết (điểm TB = 1,91).
  • Chứng minh thực nghiệm mối liên hệ giữa trình độ học vấn đại học, thời gian vận hành nhà thuốc mới (<= 6 năm) và quy mô nhân sự (>= 2 người) với sự gia tăng căng thẳng nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi và thiết kế nghiên cứu:

  • Phạm vi địa bàn nghiên cứu chỉ giới hạn tại 10 quận nội thành thuộc thành phố Hà Nội, chưa mở rộng ra các huyện ngoại thành hoặc các vùng nông thôn, đô thị khác để có tính khái quát hóa cao hơn cho toàn quốc.
  • Phương pháp chọn mẫu thuận tiện và đối tượng khảo sát loại trừ người bán lẻ thuốc tại khối nhà thuốc bệnh viện, phòng khám, sinh viên thực tập.
  • Thiết kế mô tả cắt ngang phản ánh trạng thái tâm lý tại một thời điểm nhất định (tháng 3-4/2023); hình thức khảo sát tự điền qua biểu mẫu trực tuyến có thể chịu chi phối bởi cảm xúc chủ quan của người tham gia tại thời điểm trả lời.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các tỉnh, thành phố khác và khu vực nông thôn; tiến hành nghiên cứu so sánh giữa các loại hình nhà thuốc (nhà thuốc tư nhân độc lập, chuỗi nhà thuốc hiện đại và nhà thuốc bệnh viện).
  • Sử dụng thang đo chuẩn hóa 28 biến để triển khai các nghiên cứu can thiệp, đánh giá hiệu quả của các biện pháp đào tạo kỹ năng ứng xử, giảm thiểu stress và cân bằng công việc cho dược sĩ cộng đồng.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn và học thuật cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Quản lý và Kinh tế Dược, Y tế công cộng: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu định lượng khảo sát cắt ngang, phương pháp chuyển ngữ, thử nghiệm và chuẩn hóa thang đo quốc tế bằng các kỹ thuật thống kê y dược học (Cronbach's alpha, EFA với phép trích PAF, kiểm định phi tham số Mann-Whitney và Kruskal-Wallis).
  • Người quản lý, chủ sở hữu nhà thuốc và chuỗi bán lẻ dược phẩm: Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây áp lực cho nhân viên (áp lực giao tiếp với khách hàng phàn nàn, thiếu hụt thời gian nghỉ lễ, mâu thuẫn nội bộ khi có nhiều nhân sự) để tối ưu hóa quy trình làm việc, xây dựng chế độ đãi ngộ, phân ca trực hợp lý và đào tạo kỹ năng giải quyết khiếu nại.
  • Cơ quan quản lý y tế và các cơ sở đào tạo dược: Cung cấp bằng chứng thực tế để lồng ghép các học phần về kỹ năng giao tiếp, quản lý tâm lý nghề nghiệp và kỹ năng tư vấn khách hàng khó tính vào chương trình đào tạo dược sĩ thực hành.

Câu hỏi thường gặp

Thang đo đánh giá căng thẳng chính thức của khóa luận gồm bao nhiêu biến và thuộc những nhóm nhân tố nào?

Thang đo chính thức gồm 28 biến quan sát được cấu trúc thành 6 nhóm nhân tố thông qua phân tích EFA:

  1. Thiếu chắc chắn về chuyên môn (7 biến);
  2. Những mâu thuẫn trong công việc (8 biến);
  3. Sự công nhận trong công việc (6 biến);
  4. Trách nhiệm tư vấn cho người bệnh (3 biến);
  5. Lương thưởng, phát triển (2 biến);
  6. Xung đột với đồng nghiệp, quản lý nhà thuốc (2 biến). Thang đo đạt hệ số tin cậy Cronbach's alpha = 0,931 và giải thích được 62,843% tổng phương sai trích.

Mức độ căng thẳng chung của người bán lẻ thuốc tại Hà Nội được xác định ở mức nào và tình huống nào gây căng thẳng nhất?

Mức độ căng thẳng chung của người bán lẻ thuốc đạt điểm trung bình 1,12 ± 0,600 trên thang điểm 4, thuộc phân loại căng thẳng mức độ nhẹ. Tình huống gây căng thẳng nhất là "Phải đối mặt với những bệnh nhân/khách hàng khó tính" (mã biến B2) với điểm trung bình đạt 2,24 ± 0,967 (mức căng thẳng trung bình).

Những đặc điểm nhân khẩu học nào có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với mức độ căng thẳng của người bán lẻ thuốc?

Kết quả kiểm định ghi nhận 3 đặc điểm có liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) với mức độ stress:

  • Trình độ chuyên môn: Dược sĩ trình độ đại học có điểm stress cao hơn nhóm dưới đại học (1,23 ± 0,581 so với 1,08 ± 0,604; p = 0,010).
  • Thời gian nhà thuốc hoạt động: Người làm việc tại nhà thuốc hoạt động dưới hoặc bằng 6 năm căng thẳng hơn cơ sở hoạt động trên 6 năm (1,18 ± 0,571 so với 1,04 ± 0,635; p = 0,014).
  • Số lượng nhân viên: Nhà thuốc có từ 2 nhân viên trở lên có mức stress cao hơn nhà thuốc có 1 nhân viên (1,15 ± 0,598 so với 0,99 ± 0,597; p = 0,042).

Vì sao một số biến quan sát trong bộ công cụ thử nghiệm ban đầu bị loại bỏ khỏi thang đo chính thức?

Ban đầu bộ công cụ có 38 biến. Trong kiểm định độ tin cậy, 3 biến B6, C6 và D9 bị loại do giá trị Cronbach's alpha nếu loại biến lớn hơn hệ số alpha chung của nhóm. Tiếp đó, qua 3 lần xoay nhân tố EFA, có thêm 7 biến (A9, B1, B5, B7, B8, C5, D8) bị loại do hệ số tải nhân tố (Factor loading) nhỏ hơn 0,5, đưa thang đo về 28 biến chuẩn hóa.

Cơ cấu mẫu khảo sát có đặc điểm gì nổi bật về giới tính và thời gian làm việc hàng ngày?

Trong 404 người tham gia khảo sát, nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo 91,8% (nam giới chiếm 8,2%). Về thời lượng lao động, thời gian làm việc trung bình là 9,66 ± 2,893 giờ/ngày; trong đó 45,3% làm việc trên 8 giờ/ngày, 46,3% làm việc 8 giờ/ngày và chỉ có 8,4% làm việc dưới 8 giờ/ngày.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Điêu Diễm Quỳnh (Trường Đại học Dược Hà Nội, 2023) đã chuẩn hóa thành công bộ công cụ đánh giá căng thẳng nghề nghiệp gồm 28 biến thuộc 6 nhân tố dựa trên thang đo gốc HPSI cho người bán lẻ thuốc tại Hà Nội với độ tin cậy cao (Cronbach's alpha = 0,931). Khảo sát trên 404 người bán lẻ thuốc chỉ ra mức độ căng thẳng chung ở mức nhẹ (1,12/4), trong đó trách nhiệm tư vấn cho người bệnh (đặc biệt là tình huống đối mặt khách hàng khó tính) là yếu tố gây áp lực lớn nhất. Nghiên cứu cũng xác lập bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ đại học, nhà thuốc mới vận hành và cơ sở đông nhân viên với sự gia tăng căng thẳng nghề nghiệp. Đây là công trình thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam cung cấp hệ thống số liệu định lượng chuẩn xác về trạng thái tâm lý lao động của lực lượng dược sĩ cộng đồng.