Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Công tác xã hội (CTXH) là một ngành nghề chuyên trợ giúp xã hội nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ căng thẳng tâm lý do tính chất công việc đặc thù. Nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) thường xuyên phải đối mặt với các tình huống có mức độ căng thẳng cao xuất phát từ khối lượng công việc lớn, sự thiếu hụt nhân sự, áp lực thời gian, nhu cầu phức tạp của thân chủ, các xung đột hoặc sự mơ hồ về vai trò, thiếu hụt sự công nhận và thiếu sự hỗ trợ xã hội. Hoạt động trợ giúp nhóm đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt (người mắc bệnh tâm thần nặng, người có hành vi tự sát, nạn nhân bị lạm dụng hoặc sang chấn) dễ dẫn đến tình trạng suy giảm chức năng nhận thức, kiệt quệ cảm xúc, suy giảm sức khỏe thể chất và gia tăng ý định chuyển việc.

Tại Việt Nam, nghề CTXH đang trong giai đoạn từng bước hoàn thiện tính chuyên nghiệp sau khi Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 (kéo dài đến 2021) được ban hành. Các rào cản về cơ chế phối hợp liên ngành, hệ thống giám sát chuyên môn chưa đồng bộ, cùng yêu cầu vừa làm việc vừa nâng cao trình độ tạo thêm áp lực tâm lý cho đội ngũ nhân sự. Mặc dù stress nghề nghiệp đã được quan tâm ở một số lĩnh vực, các nghiên cứu thực tiễn về stress ở NVCTXH tại Việt Nam còn rất hạn chế. Đặc biệt, nghiên cứu xây dựng hệ thống các nhóm tác nhân gây stress và các nhóm ứng phó tương ứng nhằm hỗ trợ giảm thiểu hoặc giải tỏa stress cho NVCTXH vẫn là một khoảng trống khoa học chưa được giải quyết đầy đủ.

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng mức độ stress, biểu hiện stress, tác nhân gây stress, ứng phó với stress và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở NVCTXH; trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp và thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý nhằm giúp NVCTXH giảm thiểu stress, nâng cao hiệu quả nghề nghiệp và chất lượng cuộc sống.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng 06 giả thuyết khoa học đánh số theo văn bản:

  1. Đa số NVCTXH có mức độ stress nhẹ.
  2. Các biểu hiện stress trên các nhóm khách thể là khác nhau.
  3. Có nhiều tác nhân gây stress cho NVCTXH, trong đó nhóm tác nhân từ yếu tố đặc điểm công việc gây stress cho NVCTXH ở mức cao nhất.
  4. NVCTXH sử dụng đa dạng các ứng phó với stress, trong đó nhóm ứng phó với yếu tố sức khỏe thể chất và nhóm ứng phó với yếu tố đặc điểm công việc được NVCTXH sử dụng có hiệu quả hơn cả.
  5. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mức độ stress ở NVCTXH, trong đó yếu tố "thời gian làm việc nhà và việc cá nhân" ảnh hưởng tới mức độ stress mạnh nhất.
  6. Có thể giảm mức độ stress bằng biện pháp tổ chức tham vấn cho NVCTXH.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  1. Tổng quan, hệ thống hóa và xây dựng cơ sở lý luận về stress ở NVCTXH.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng mức độ stress, biểu hiện stress, tác nhân gây stress, ứng phó với stress và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở NVCTXH.
  3. Đề xuất các biện pháp hỗ trợ giảm stress và tổ chức thực nghiệm đánh giá tính khả thi, hiệu quả của biện pháp tham vấn tâm lý cho NVCTXH.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Mức độ stress, biểu hiện stress, tác nhân gây stress, ứng phó với stress và các yếu tố ảnh hưởng tới stress ở NVCTXH.
  • Khách thể nghiên cứu:
    • Khách thể chính: 436 NVCTXH đang làm việc tại các cơ sở xã hội trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tại khu vực Đông Nam Bộ.
    • Khách thể phụ: 20 cán bộ quản lý NVCTXH và cán bộ quản lý đào tạo ngành CTXH tại các trường đại học, cao đẳng.
  • Phạm vi không gian (địa bàn nghiên cứu): 05 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh (267 người), Đồng Nai (32 người), Bình Dương (32 người), Bà Rịa – Vũng Tàu (34 người) và Bình Phước (71 người).
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung khảo sát mức độ, biểu hiện, tác nhân, ứng phó và 06 yếu tố ảnh hưởng: (1) Tính lạc quan hay bi quan, (2) Mức độ hài lòng đối với công việc, (3) Khí chất, (4) Chỗ dựa xã hội, (5) Thời gian làm việc, (6) Ý định thay đổi công việc.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu và thực hiện từ tháng 6 năm 2019 đến tháng 12 năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 03 hướng tiếp cận chính:

Hướng nghiên cứu về mức độ và biểu hiện của stress

  • Nghiên cứu quốc tế: Johnson và Smith nghiên cứu sự biến đổi điện não đồ dưới tác động của stress; Meclin (1981) chỉ ra sự khác biệt mức độ stress giữa các cá nhân phụ thuộc vào thuộc tính hệ thần kinh; Ferreri (1997) phân tích các biểu hiện rối loạn tâm thần và phản ứng thần kinh thể dịch; Tsai, Fung, Chow (sử dụng thang đo TSI của Fimian và Fastenu, 1990) chỉ ra biểu hiện mệt mỏi và cảm xúc chiếm ưu thế ở giáo viên; Jayaratne (1984), Cahill (1992), Anderson (2000), Kadushin (1993), Dillenburger (2004) làm rõ các biểu hiện cạn kiệt cảm xúc, mất nhân cách, phản ứng thực thể (đau đầu, rối loạn tiêu hóa, tăng huyết áp) và cảm giác bất lực ở NVCTXH; Nelson-Gardell (2003) nhấn mạnh nguy cơ căng thẳng sang chấn thứ phát khi lắng nghe sang chấn của thân chủ.
  • Nghiên cứu trong nước: Đặng Phương Kiệt và Nguyễn Khắc Viện (1994) nghiên cứu phản ứng hành vi ở thanh thiếu niên; Đỗ Văn Đoạt (2013) khảo sát mức độ stress của sinh viên sư phạm; Đỗ Thị Lệ Hằng (2014) khảo sát 4 mặt biểu hiện ở học sinh THPT; Tô Như Khuê (1980, 1995, 1997) phân tích căng thẳng cảm xúc của quân nhân và người lao động; Nguyễn Thành Khải (2001) nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý; Phạm Thị Thanh Hương (2015) khảo sát stress ở vận động viên; Nguyễn Thị Thúy Dung (2016) khảo sát cán bộ quản lý trường học; Trần Thị Thu Thủy và Nguyễn Liên Hương (2016) khảo sát điều dưỡng; Trịnh Viết Then (2016) nghiên cứu giáo viên mầm non; Phạm Ngọc Thanh và cộng sự (2019) dùng thang DASS đo lường stress ở nhân viên y tế; Lê Chí An và cộng sự (2012) hệ thống hóa 4 nhóm dấu hiệu nhận biết stress ở NVXH; Nguyễn Thị Ngọc (2014) khảo sát hội chứng kiệt sức nghề nghiệp; Vũ Thị Lụa và Lê Văn Nguyễn (2015) nghiên cứu 4 mặt biểu hiện stress ở nhân viên xã hội tại TP.HCM.

Hướng nghiên cứu về tác nhân gây stress

  • Nghiên cứu quốc tế: Hans Selye phát triển thuyết Hội chứng thích nghi chung (GAS); Syrington và cộng sự (1955), Mason (1975) bổ sung vai trò nhận thức tác nhân; Holmes và Rahe (1967) xây dựng thang đo sự kiện đời sống (SRE gồm 43 sự kiện); Ximônốp (1970) chỉ ra nguyên nhân thiếu hụt thông tin; John Locker nêu 6 nhóm nguyên nhân ở nhà quản lý; Fernet và cộng sự chỉ ra sự quá tải, xung đột và mơ hồ vai trò; Courage (2004), Himle (2008), Walonick (2020), Collings (2003), Siegrist (1986), Dane (2000), McLean (2002), Dollard (2003), Storey (2007), Lloyd (2002), Regehr (2004), Whitaker (2006), Earle (2008), Kim và cộng sự (2011), Rita Raudeliunaite và Giedre Volff (2018) xác định các tác nhân từ khối lượng công việc, thân chủ thách thức, tiền lương thấp, điều kiện làm việc kém và thiếu sự kiểm huấn.
  • Nghiên cứu trong nước: Đặng Phương Kiệt (2001), Tô Như Khuê (1995), Phạm Mạnh Hà (2011), Nguyễn Thành Khải (2001), Trịnh Viết Then (2016), Nguyễn Thị Thúy Dung (2016) phân tích các nguyên nhân tổ chức và cá nhân; Lê Chí An và cộng sự (2012) phân loại stress theo thời gian, tương quan, tình huống, suy diễn và nghị lực cá nhân; Vũ Thị Lụa (2017) chỉ ra 5 nguyên nhân hàng đầu ở nhân viên xã hội TP.HCM gồm thu nhập thấp, mâu thuẫn quan hệ, thời tiết nóng nực, quan hệ phức tạp và lo sợ giảm thu nhập.

Hướng nghiên cứu về ứng phó với stress

  • Nghiên cứu quốc tế: Lazarus và Folkman (1984) phân loại ứng phó tập trung vào cảm xúc và ứng phó tập trung vào vấn đề; Carver và Scheier (1989) phát triển bảng kiểm COPE; Endler và Parker phát triển thang CISS; Oláh xây dựng mô hình thích nghi, đồng hóa và lảng tránh; Bourne đưa ra bảng kê 24 chiến lược tích cực thuộc 4 nhóm; Kumarmahi (2007) xác lập quy trình 3 bước ứng phó; Shannon và Saleebey, Um và Harrison, Anderson, Coffey, Dillenburger, Collins phân tích các chiến lược tìm kiếm hỗ trợ, tái cấu trúc nhận thức, thư giãn và tập thể dục.
  • Nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thành Khải (2001), Trịnh Viết Then (2016), Nguyễn Thị Thúy Dung (2016), Phạm Thị Hằng và cộng sự (2019) nghiên cứu các biện pháp tự điều chỉnh, chia sẻ và thư giãn; Lê Chí An và cộng sự (2012) đề xuất các chiến lược ứng phó theo 5 nhóm yếu tố; Ntombenhle Moyane (2016), Vũ Thị Lụa (2016) chỉ ra các chiến lược thực tế của nhân viên xã hội.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan cho thấy các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu nghiên cứu stress ở giáo viên, học sinh, sinh viên, cán bộ quản lý hoặc nhân viên y tế; nghiên cứu trên NVCTXH còn rất ít. Các nghiên cứu hiện có về NVCTXH thường tiếp cận đơn lẻ từng khía cạnh hoặc dừng lại ở mức độ lý luận. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách thiết lập một khung nghiên cứu hệ thống, khảo sát đồng thời 4 mặt biểu hiện, phân loại 5 nhóm tác nhân gây stress gắn liền với 5 nhóm chiến lược ứng phó tương ứng, định lượng 6 yếu tố ảnh hưởng tâm lý - xã hội và đánh giá hiệu quả can thiệp thực nghiệm tham vấn tâm lý.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Các nguyên tắc phương pháp luận

Luận án được triển khai dựa trên 04 nguyên tắc phương pháp luận tâm lý học:

  • Nguyên tắc hoạt động: Nghiên cứu stress nảy sinh trực tiếp từ hoạt động thực tiễn hàng ngày và hoạt động chuyên môn nghề nghiệp của NVCTXH.
  • Nguyên tắc hệ thống: Xem xét mức độ stress trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại với các biểu hiện, tác nhân gây stress và các yếu tố ảnh hưởng chủ quan lẫn khách quan.
  • Nguyên tắc phát triển: Tiếp cận stress như một trạng thái tâm lý có thể biến đổi; cá nhân có khả năng giảm thiểu hoặc kiểm soát stress khi có các biện pháp tác động phù hợp.
  • Nguyên tắc liên ngành: Kết hợp tri thức chuyên ngành Tâm lý học (chủ đạo) với Công tác xã hội và Sinh lý học.

Khái niệm và khung phân tích

Luận án tiếp cận stress dưới góc độ hệ thống: Stress ở NVCTXH là trạng thái mất cân bằng của cơ thể, biểu hiện ở mặt thể chất, nhận thức, cảm xúc và hành vi; xuất hiện khi NVCTXH đáp ứng lại những tác động từ hoạt động nghề CTXH, hoạt động hàng ngày, môi trường sống và làm việc hay từ chính bản thân họ.

Khung phân tích của luận án bao gồm:

  • 05 mức độ stress: Bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng.
  • 04 mặt biểu hiện stress: Thể chất, nhận thức, cảm xúc, hành vi.
  • 05 nhóm tác nhân gây stress: Yếu tố thời gian, mối quan hệ, tình huống, sức khỏe thể chất - tinh thần, đặc điểm công việc CTXH.
  • 05 nhóm ứng phó với stress: Ứng phó với yếu tố thời gian, mối quan hệ, tình huống, sức khỏe thể chất - tinh thần, đặc điểm công việc.
  • 06 yếu tố ảnh hưởng: Tính lạc quan/bi quan, mức độ hài lòng công việc, khí chất, chỗ dựa xã hội, thời gian làm việc (tại cơ sở, việc nghề ở nhà, việc nhà/cá nhân), ý định thay đổi công việc.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua 3 giai đoạn nghiên cứu:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tổng hợp lý luận về stress nghề nghiệp và CTXH.
  2. Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến chuyên gia tâm lý học và công tác xã hội để chỉnh sửa bộ công cụ khảo sát.
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát diện rộng trên 436 NVCTXH.
  4. Phương pháp trắc nghiệm tâm lý:
    • Bảng đo lường Trầm cảm - Lo âu - Stress (DASS của Lovibond, 1995, phiên bản Việt hóa) để xác định mức độ stress.
    • Thang đo khí chất Eysenck.
    • Trắc nghiệm đo tính lạc quan – bi quan.
    • Thang đo Hỗ trợ xã hội đa diện (MSPSS - Multidimensional Scale of Perceived Social Support).
  5. Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên nhóm khách thể NVCTXH và cán bộ quản lý.
  6. Phương pháp quan sát: Ghi nhận hành vi, biểu hiện của nhân viên trong môi trường làm việc.
  7. Phương pháp thực nghiệm: Thực nghiệm tham vấn tâm lý cho các cá nhân có mức độ stress nặng và rất nặng.
  8. Phương pháp mô tả chân dung: Phân tích các trường hợp ca điển hình trong thực nghiệm.
  9. Phương pháp thống kê toán học: Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê (tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sai biệt t-test, ANOVA, phân tích tương quan Pearson, phân tích hồi quy đơn biến và đa biến).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận về stress ở nhân viên công tác xã hội

Chương 1 hệ thống hóa các cách tiếp cận lý thuyết về stress: tiếp cận sinh học (Walter Cannon, Hans Selye), tiếp cận sự kiện môi trường (Holmes & Rahe, Meyer, Holroyd), tiếp cận nhận thức – hành vi (Lazarus & Folkman, Gatchel & Baum, Tô Như Khuê), tiếp cận trạng thái tâm lý (Zinchenko, Herbert, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Thành Khải) và tiếp cận hệ thống (Ferreri, Kitaepxmưx, Spielperger, Nguyễn Khắc Viện, Vũ Dũng).

Chương này xác định khái niệm NVCTXH dựa trên Thông tư liên tịch số 30/2015/TTLT-BLĐTBXH-BNV và phân tích các đặc điểm nghề nghiệp dễ dẫn tới stress: tính mơ hồ về kỹ thuật và vị thế xã hội; sự phức tạp trong tuân thủ chuẩn mực đạo đức; tính chất công việc quá tải, thiếu thời gian, kỳ vọng lớn vào sự thay đổi của thân chủ nhưng thân chủ thiếu hợp tác; môi trường tác nghiệp thiếu hệ thống giám sát kiểm huấn đồng bộ, nguy cơ tai nạn nghề nghiệp cao và rào cản thủ tục hành chính. Từ đó, chương 1 xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá mức độ, biểu hiện (4 mặt), tác nhân (5 nhóm), ứng phó (5 nhóm) và 6 yếu tố ảnh hưởng đến stress của NVCTXH.

Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 (Xây dựng cơ sở lý luận), Giai đoạn 2 (Khảo sát thực trạng trên 436 NVCTXH và 20 cán bộ quản lý), Giai đoạn 3 (Đề xuất biện pháp và thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý).

Địa bàn nghiên cứu Số lượng mẫu NVCTXH (người) Tỷ lệ (%)
Thành phố Hồ Chí Minh 267 61,24
Bình Phước 71 16,28
Bà Rịa – Vũng Tàu 34 7,80
Bình Dương 32 7,34
Đồng Nai 32 7,34
Tổng cộng 436 100,0

Chương 2 thiết lập quy tắc chuyển đổi điểm trung bình (ĐTB) định lượng sang các mức độ định tính cho các thang đo biểu hiện, tác nhân và ứng phó, đồng thời chuẩn hóa quy trình thực nghiệm tham vấn tâm lý theo từng bước can thiệp.

Chương 3. Kết quả nghiên cứu thực trạng về stress ở nhân viên công tác xã hội

Chương 3 trình bày toàn bộ các phát hiện định lượng và định tính từ khảo sát thực trạng và thực nghiệm:

Thực trạng mức độ và biểu hiện stress

  • Đa số NVCTXH có mức độ stress nhẹ, phù hợp với giả thuyết 1.
  • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ stress giữa các nhóm phân theo: tỉnh/thành phố, giới tính, trình độ học vấn, lĩnh vực chuyên môn, loại hình hợp đồng lao động, thu nhập, nơi cư trú.
  • Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ stress giữa các nhóm phân theo: thời gian công tác, tình trạng tham gia tập huấn CTXH, đối tượng trợ giúp chuyên trách và tình trạng hôn nhân.
  • Biểu hiện stress xuất hiện trên cả 4 mặt; thứ tự mức độ thể hiện rõ nét từ cao xuống thấp là: Cảm xúc > Nhận thức > Hành vi > Thể chất.

Thực trạng tác nhân gây stress và chiến lược ứng phó

  • Tác nhân gây stress xuất hiện từ cả 5 nhóm yếu tố khảo sát, trong đó nhóm tác nhân từ đặc điểm công việc CTXH gây ra mức độ stress cao nhất.
  • NVCTXH sử dụng phối hợp cả 5 nhóm chiến lược ứng phó, trong đó 2 nhóm được sử dụng hiệu quả nhất là ứng phó với yếu tố sức khỏe thể chất và ứng phó với yếu tố đặc điểm công việc.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và mô hình hồi quy

  • Kết quả hồi quy đơn biến xác định thứ tự mức độ tác động của các yếu tố đến mức độ stress ở NVCTXH:
    1. Thời gian làm việc nhà và việc cá nhân (ảnh hưởng mạnh nhất).
    2. Chỗ dựa xã hội.
    3. Tính lạc quan hay bi quan.
    4. Ý định thay đổi công việc.
    5. Khí chất.
    6. Mức độ hài lòng đối với công việc.
    7. Thời gian làm việc nghề nghiệp ở nhà (ảnh hưởng ít nhất).
  • Kết quả hồi quy đa biến khẳng định mô hình kết hợp tất cả các yếu tố trên có khả năng giải thích tốt nhất sự biến thiên của mức độ stress ở NVCTXH.

Kết quả thực nghiệm tham vấn tâm lý

Tác giả tiến hành thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý trên nhóm NVCTXH có mức độ stress nặng và rất nặng. Kết quả đo lường trước và sau can thiệp cho thấy:

  • Nhận thức của NVCTXH về các tác nhân gây stress và kỹ năng ứng phó có sự chuyển biến tích cực.
  • Mức độ stress của nghiệm thể giảm rõ rệt sau quá trình tham vấn.
  • Phân tích trường hợp điển hình chứng minh tính hiệu quả của quy trình tham vấn tâm lý cá nhân trong việc hỗ trợ giải tỏa căng thẳng nghề nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về stress nghề nghiệp trong lĩnh vực CTXH tại Việt Nam dưới góc độ tiếp cận hệ thống.
  2. Xác lập cấu trúc lý luận hoàn chỉnh về stress ở NVCTXH gồm 5 mức độ, 4 mặt biểu hiện (thể chất, nhận thức, cảm xúc, hành vi), 5 nhóm tác nhân gây stress và 5 nhóm chiến lược ứng phó tương ứng.
  3. Làm sáng tỏ cơ chế tác động của 6 yếu tố tâm lý - xã hội (lạc quan/bi quan, sự hài lòng công việc, khí chất, chỗ dựa xã hội, thời gian làm việc, ý định chuyển việc) đến mức độ stress ở NVCTXH.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp dữ liệu thực trạng toàn diện về stress ở 436 NVCTXH tại 5 tỉnh/thành phố khu vực Đông Nam Bộ.
  2. Chứng minh mối liên hệ giữa stress với thâm niên công tác, tập huấn chuyên môn, đối tượng trợ giúp và tình trạng hôn nhân; chỉ ra sự vượt trội của biểu hiện cảm xúc và áp lực từ đặc điểm công việc CTXH.
  3. Xác định yếu tố "thời gian làm việc nhà và việc cá nhân" có tác động mạnh nhất đến mức độ stress trong phân tích hồi quy đơn biến.
  4. Đề xuất 04 nhóm biện pháp can thiệp giảm thiểu stress cho NVCTXH và chứng minh bằng thực nghiệm tính khả thi, hiệu quả của biện pháp tham vấn tâm lý cho các trường hợp stress nặng và rất nặng.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

Luận án đề xuất 04 nhóm biện pháp nhằm hỗ trợ giảm stress cho NVCTXH:

  1. Hoàn thiện chính sách, định biên vị trí việc làm và chế độ đãi ngộ tương xứng với tính chất nguy hiểm, phức tạp của nghề CTXH.
  2. Thiết lập hệ thống kiểm huấn, giám sát chuyên môn định kỳ và hỗ trợ tâm lý chuyên nghiệp tại các cơ sở xã hội.
  3. Tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn kỹ năng quản lý thời gian, cân bằng công việc - cuộc sống và kỹ năng ứng phó stress cho NVCTXH.
  4. Triển khai dịch vụ tham vấn tâm lý định kỳ nhằm phát hiện sớm và can thiệp kịp thời cho nhân viên rơi vào trạng thái stress nặng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về địa bàn và mẫu khảo sát: Nghiên cứu chỉ giới hạn trong phạm vi 05 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ và tập trung vào các cơ sở xã hội công lập trực thuộc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, chưa mở rộng sang các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các vùng địa lý khác.
  • Hạn chế về quy mô thực nghiệm: Biện pháp thực nghiệm mới chỉ tập trung vào hình thức tham vấn tâm lý cho nhóm NVCTXH có mức độ stress nặng và rất nặng, chưa thực nghiệm đồng thời các biện pháp tác động can thiệp tổ chức trên quy mô toàn thể nhân viên.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu trên toàn quốc và so sánh giữa NVCTXH trong khu vực công lập với khu vực ngoài công lập.
    • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm huấn chuyên môn (supervision) như một công cụ phòng ngừa stress tiên phát cho nhân viên xã hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề Tâm lý học lao động, Tâm lý học lâm sàng, Tâm lý học xã hội và Công tác xã hội chuyên nghiệp; cung cấp khung thang đo chuẩn hóa (DASS, MSPSS, khí chất, lạc quan – bi quan).
  • Đối với nhà quản lý và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng tiêu chuẩn ngạch bậc viên chức, định mức khối lượng công việc, chính sách đãi ngộ và thiết lập hệ thống kiểm huấn tại các cơ sở trợ giúp xã hội.
  • Đối với NVCTXH: Tài liệu giúp nhân viên nhận diện sớm 4 mặt biểu hiện stress, nhận biết nguồn gốc gây căng thẳng và vận dụng các chiến lược ứng phó thể chất, tái cấu trúc nhận thức để tự bảo vệ sức khỏe tâm thần.

Câu hỏi thường gặp

1. Mức độ stress phổ biến nhất ở nhân viên công tác xã hội trong khảo sát là gì?

Kết quả khảo sát trên 436 NVCTXH tại khu vực Đông Nam Bộ cho thấy đa số nhân viên trải qua mức độ stress nhẹ, đúng như giả thuyết nghiên cứu số 1 đã đề ra.

2. Biểu hiện stress nào xuất hiện rõ nét nhất ở nhân viên công tác xã hội?

Stress ở NVCTXH biểu hiện ở cả 4 mặt nhưng mức độ xuất hiện rõ nét nhất là ở mặt cảm xúc, tiếp theo lần lượt là mặt nhận thức, mặt hành vi và cuối cùng là mặt thể chất.

3. Nhóm tác nhân nào gây ra mức độ stress cao nhất cho nhân viên công tác xã hội?

Trong 5 nhóm tác nhân khảo sát (thời gian, mối quan hệ, tình huống, sức khỏe thể chất – tinh thần, đặc điểm công việc), nhóm tác nhân bắt nguồn từ đặc điểm công việc CTXH (tính chất công việc quá tải, thân chủ phức tạp, thiếu sự hợp tác, thủ tục hành chính, rủi ro nghề nghiệp) gây stress ở mức cao nhất.

4. Yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến mức độ stress của nhân viên công tác xã hội theo mô hình hồi quy đơn biến?

Theo kết quả phân tích hồi quy đơn biến của luận án, yếu tố "thời gian làm việc nhà và việc cá nhân" có tác động mạnh nhất đến mức độ stress của NVCTXH; ngược lại, yếu tố "thời gian làm việc nghề nghiệp ở nhà" có mức độ ảnh hưởng ít nhất.

5. Biện pháp can thiệp nào đã được tác giả tiến hành thực nghiệm và kết quả ra sao?

Tác giả đã tiến hành thực nghiệm biện pháp tham vấn tâm lý cho nhóm NVCTXH có mức độ stress nặng và rất nặng. Kết quả thực nghiệm chứng minh biện pháp này giúp nâng cao nhận thức về tác nhân gây stress, cải thiện chiến lược ứng phó và làm giảm rõ rệt mức độ stress của nhân viên trước và sau khi tham vấn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Lụa đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề stress ở nhân viên công tác xã hội tại khu vực Đông Nam Bộ trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Công trình chỉ ra rằng dù đa số nhân viên có mức độ stress nhẹ, áp lực cảm xúc và tác nhân từ đặc điểm nghề nghiệp CTXH vẫn là những nguy cơ hiện hữu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tâm thần của người lao động. Kết quả phân tích hồi quy và kiểm chứng thực nghiệm tham vấn tâm lý cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách đãi ngộ, thiết lập hệ thống kiểm huấn và xây dựng các chương trình chăm sóc tâm lý chuyên nghiệp cho đội ngũ nhân viên công tác xã hội tại Việt Nam.