mở đầu giai đoạn tầng lớp thống trị Thái làm chủ miền Tây Bắc. Họ cư trú 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ổn định theo các cánh đồng lớn và những thửa ruộng bậc thang ven sông, suối vừa làm ruộng vừa làm nương. Với bàn tay lao động cần cù, chịu khó,, người Thái dần xây dựng các bản mường Tây Bắc trở thành hùng mạnh, giàu có, đông vui rộn ràng tiếng khắp, tiếng đàn. Do địa bàn cư trú và những cuộc di dân lớn, các ngành Thái trắng, Thái đen đã chịu ảnh hưởng rất nhiều bởi nền văn hoá và nhân chủng của các cư dân địa phương nơi mà họ đi qua.
Nói cách khác, người Thái trong lịch sử đã có quá trình hỗn dung và tiếp biến văn hoá bởi các dân tộc anh em để tạo nên sắc thái văn hoá của cả vùng. Những áng mo của người Thái đã “vô tình” kể lại quá trình thiên di này: “Đưa xuống núi Kẹo Pét Đưa xuống nép Kẹo Piên Xuống đến mường Lử trên đất Lào Xuống đất Lào đất rộng trời thấp Xuống đến mường Thanh dưới, Thanh trên Xuống mường Đói, mường Đuôn Xuống mường Lằm, mường Lèo Xuống mường Húng, Chiềng Khương…” [Theo Lê Sỹ Giáo ] Đoạn mo này kể lại đường đi của cỏ cây, súc vật từ trên trời xuống trần gian. Một loạt những địa danh của Tây Bắc, Lào, Thanh Hoá đã được nhắc đến. Các tên đất tên mường này phản ánh một cách rõ ràng con đường di dân của người Thái Việt Nam: từ Tây Bắc Việt Nam, từ Lào dọc theo sông Mã xuống miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An.
Các truyện dân gian của dân tộc Thái đã có sự vay mượn những hình ảnh, môtif, cốt truyện của các dân tộc khác như Kháng, Xá, Lào… trong quá trình cộng cư. Nhiều tác phẩm dân gian của dân tộc Thái ở Việt Nam có mối quan hệ gần gũi với các phẩm dân gian của các nước trong khu vực. Sử thi Chương Han là một minh chứng. Trong “Quắm tố mướng” có truyện kể rằng sau nạn hồng thuỷ, mọi sinh vật đều bị chết hết, trái đất trở nên hoang vu.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trước cảnh đó, Then (chủ mường Trời) mới nghĩ ra cách xây dựng lại trần gian đông vui như xưa. Then đã sai Tạo Xuông, Tạo Ngơn đem theo tám “tau pung” (quả bầu) xuống trần gian, ở ngoài mường Trời của Then. Mọi giống loài chứa đủ trong đó. Sáu quả bầu được Tạo Ngơn đem xuống mường Lò đẻ ra các giống loài và sáu cột chống trời.
Còn hai quả rải đi các nơi khác thành giống người Mường Dôn, mường Lào, mường Lự. Ở Tây Bắc Việt Nam có lưu truyền các truyện kể về người anh hùng Chương Han, ở tây Nghệ An có anh hùng ca Khủn Chưởng, ở Lào và Thái Lan có sử thi Thạo Hùng hay Chương. Đây là một bằng chứng về sự giao lưu, gắn kết nhau của người Thái ở Việt Nam và người Lào, người Thái Lan. Giao lưu văn hoá giữa các dân tộc gần gũi nhau về môi trường địa lý – lịch sử là một quá trình tất yếu để tạo nên bản sắc văn hoá chung của cả vùng bên cạnh những nét độc đáo riêng của từng dân tộc.
Sản phẩm của quá trình giao lưu đó là những hiện tượng văn hoá - xã hội – văn học nghệ thuật như sử thi Chương Han. Những khía cạnh có tính sơ lược về lịch sử người Thái nói trên phần nào giúp chúng ta hình dung được một trong những mạch nguồn văn hoá, môi trường sinh ra văn học dân gian Thái nói chung, sử thi Chương Han nói riêng. Sau nhiều thế kỷ nhọc nhằn trên những bước đường chinh chiến “pang tạo tố mương” (thời kỳ đi tìm mường) là đến thời kỳ ổn định cư trú làm kinh tế nông nghiệp xây dựng bản mường: “pang tạo kin mương” (thời tạo xây mường). Do đặc trưng của địa bàn cư trú không chỉ có núi cao rừng rậm, sông sâu mà còn thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều của vùng nhiệt đới thuận lợi cho cây cối phát triển, người Thái cổ đã sớm chuyển từ săn bắt, hái lượm sang trồng trọt, chăn nuôi.
Điều kiện thiên nhiên đã dẫn dắt con người tới việc thiết chế đồng ruộng. Theo Cầm Trọng – Phan Hữu Dật và nhiều nhà nghiên cứu tâm huyết khác, người Thái là một cộng đồng tộc người sớm có nền văn hoá lúa nước ở trong các thung lũng lòng chảo [50, 55]. Nhiều sử sách, truyện kể cho biết người Thái sớm biết tận dụng yếu tố nước và đất để khai khẩn đất đai làm ruộng, mở rộng diện tích canh tác trên các cánh đồng lớn nhỏ ở các thung lũng lòng chảo hoặc ở ven các con sông, con suối. Rõ ràng, người Thái là cư dân 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nông nghiệp và ban đầu chủ yếu là trồng lúa nước.
Qua nhiều thế hệ kiến tạo, người Thái đã có kinh nghiệm kĩ thuật thâm canh cây lúa. Họ cũng đã xác định được bốn yếu tố “cần” của nghề trồng lúa theo thứ tự “nước – phân – cần – giống” để tăng năng suất. Theo đó, người Thái xây dựng một hệ thống tưới tiêu độc đáo bao gồm bốn yếu tố “mương – phai – lái – lin” thích hợp với địa thế của ruộng nước. Tức là họ biết khơi những đường dẫn nước (Mương), đắp đập ngăn nước (Phai), đặt “cọn” và dẫn nước qua chướng ngại (Lái) và làm các máng để dẫn nước vào ruộng (Lin).
Hệ thống tưới tiêu này đã trở thành nét văn hoá rất đặc trưng của người Thái: văn hoá thung lũng. Đặc trưng văn hoá này đã được phản ánh bằng những hình tượng văn học trong khá nhiều truyện kể Thái như Quắm tố mướng, Táy pú xấc, các truyện thơ. Người Thái còn kết hợp làm nương rẫy, trồng những cây, củ, quả dùng làm thức ăn và cung cấp những nhu yếu phẩm cần thiết để đáp ứng nhu cầu cuộc sống: quần áo, chăn màn, đệm… Họ cũng làm thêm những nghề phụ khác như nghề dệt vải, đan lát… Cuộc sống của những cư dân Thái chủ yếu là tự cấp, tự túc. Con người sống dựa vào rừng, sông, suối bởi nó là nơi cung cấp nhiều nguồn lương thực, thực phẩm bổ sung cho bữa ăn làm phong phú thêm đời sống vật chất, tinh thần của họ.
Điều kiện kinh tế vật chất của người Thái đã ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hoá, tinh thần và liên quan chặt chẽ tới quan niệm sống của họ trong mọi thời đại. Cho đến trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, xã hội Thái là một xã hội thuộc “thời kỳ đầu của chế độ phong kiến còn nhiều tàn dư của chế độ trước đó” [55] biểu hiện ở việc sở hữu ruộng đất, bộ máy cai trị và nông dân lao động. Tất cả đất đai, ruộng nương, nguồn nước… đều thuộc quyền sở hữu công cộng của mường. Nhưng tùy nơi trong quá trình lịch sử cũng có sự diễn biến khác nhau.
Có nơi, chúa đất thực chất là kẻ chiếm hữu đất đai ruộng nương. Theo địa vị và chức phận, mỗi thành viên trong mường đại diện nhận một số ruộng để làm ăn và đóng góp thóc “gánh vác” để nuôi người bề trên và chi dùng vào việc của mường. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bộ máy cai trị trong một mường Thái gồm Chẩu Mường, Phìa, Tạo và những người cầm đầu các lãnh chúa phong kiến. Đứng đầu mường là Chẩu Mường, đứng đầu Phìa là Tạo Phìa, đứng đầu bản là Tạo Bản.
Mường là lãnh địa cát cứ của Chẩu Mường, có bộ máy cai trị hoàn chỉnh về nội chính, quân sự và ngoại giao. Dưới Chẩu Mường, các lãnh chúa cai trị ở mỗi vùng theo luật chung cổ truyền. Ngoài ra, họ còn tự đặt luật riêng theo sở thích cá nhân (lệ làng) để tha hồ thao túng, bóc lột nhân dân. Xã hội Thái có hai tầng lớp chính: quí tộc quan lại và dân “gánh vác” hay “cuông, nhốc, puapai”.
Quan hệ giữa hai tầng lớp theo hệ thống khép kín từ trên xuống dưới. Bọn quí tộc quan lại thống trị luôn tìm mọi cách biện minh cho hành động của mình là dựa vào “luật đới xơ” (luật đời xưa) nào đó, tự mệnh danh là thay mặt “then” để trị dân. Ngay cả đến cha, mẹ, chú, bác… những kẻ vừa là nạn nhân vừa là người thực hiện thứ luật đó, cũng luôn tỏ ra mẫn cán thực thi, có khi còn hoàn toàn tin tưởng rằng mình làm đúng. Đây chính là nếp nghĩ đã ăn sâu vào tiềm thức người Thái xưa, làm cho ngay cả các nạn nhân đáng thương cũng vẫn cứ tin là mình đang được hưởng lẽ công bằng, vẫn tin luật lệ đó là chân lý.
Trong xã hội Thái còn tồn tại hệ thống Mo chang từ Mường xuống bản - đó là hệ thống cai trị phần hồn của người Thái. Cao nhất là “Mo mường” đứng bên cạnh Chẩu mường, được Chẩu mường kính nể. Người Thái ấn định “Hó Lương hệt mo, hó Lo hệt quản” (Họ Lương làm mo, họ Lò làm quan). Ông Mo là người am hiểu vốn văn hoá cổ truyền của dân tộc đầy đủ và sâu sắc nhất.
Họ thay mặt Chẩu mường tiếp xúc với tổ tiên khi cúng lễ, ngoài ra còn biên soạn luật tục, lễ nhạc giúp Chẩu Mường cai quản bộ tộc. Ngoài những Mo mường người Thái thường gọi là Mo luông (Mo lớn) còn có Mo nọi (Mo nhỏ), Mo bản giúp làng bản, dân chúng cúng lễ tổ tiên. Những Mo này là cầu nối giữa tầng lớp quí tộc quan lại với dân, gắn bó với đời sống nhân dân, thuộc lòng và lưu giữ nhiều vốn văn hoá, văn học dân gian cổ truyền. Nhân dân lao động làm thuê là đối tượng cai trị bóc lột của Chẩu Mường, Phìa, Tạo.
Họ thuộc số đông luôn bị lệ thuộc, có trách nhiệm và bổn phận 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “gánh vác” làm thuê ruộng của Phìa, Tạo dưới những hình thức khác nhau như “cuông, nhốc, puapai”. Quan hệ gia đình và hôn nhân của người Thái có nhiều nét độc đáo, khác lạ mang đặc trưng riêng của tộc người. Ở vùng Thái trước đây tồn tại chế độ đại gia đình: ông, bà, cha mẹ, con cháu sống chung trong một nhà sàn rộng lớn. Người đứng đầu gia đình có nhiệm vụ điều khiển mọi công việc về mặt kinh tế, đời sống sinh hoạt, tín ngưỡng, ma chay, cưới xin và thay mặt gia đình trước bản mường.
Các thành viên thường sống hoà thuận, con cái, cháu chắt được chăm sóc chung. Sau này chế độ tiểu gia đình dần dần được thay thế với tính chất phụ quyền của nó. Theo tục lệ Thái, chủ gia đình nằm cạnh cột chính bên cạnh tổ tiên (ma nhà) và là người điều khiển những công việc gia đình.