CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LĨNH VỰC AN TOÀN – MÔI TRƯỜNG – SỨC KHỎE NGHỀ NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm an toàn, môi trường lao động và sức khỏe nghề nghiệp 1.1 Những khái niệm liên quan đến an toàn lao động Có nhiều khái niệm an toàn lao động được tiếp cận ở nhiều góc độ kinh tế, xã hội, khoa học kĩ thuật hay pháp luật với phạm vi rộng, hẹp khác nhau. Bộ Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 của Quốc hội khóa XIII (2015) định nghĩa: An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động. Nói cách khác an toàn lao động chính là giải pháp để không xảy ra tai nạn trong quá trình lao động. Theo khái niệm trên thì yếu tố nguy hiểm trong an toàn lao động là yếu tố gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động.
(Bộ LĐTB & XH, 2015) An toàn được hiểu là trạng thái mà con người, thiết bị, môi trường được bảo vệ, phòng chống lại những tác nhân nguy hại có thể phát sinh hoặc tiềm ẩn do các nguyên nhân chủ quan, khách quan trong cuộc sống. An toàn lao động là tình trạng nơi làm việc đảm bảo cho người lao động được làm việc trong điều kiện lao động an toàn, không gây nguy hiểm đến tính mạng, không bị tác động xấu đến sức khỏe. (Nguyễn Văn Mỹ, Nguyễn Hoàng Vĩnh, 2013) Dựa trên những nghiên cứu của các học giả trên, an toàn lao động có thể được hiểu như sau: An toàn lao động là có tính bắt buộc với trách nhiệm các chủ thể người lao động, người sử dụng lao động đồng thời thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước đối với vấn đề sức khoẻ của người lao động. Nội dung an toàn lao động gắn với những đặc điểm riêng của công việc, nghề nghiệp nên các quy phạm pháp luật về an toàn không chỉ mang tính chất pháp lý thuần tuý mà còn hàm chứa tính kĩ thuật, thích ứng với nghề nghiệp, công việc.
Khi khoa học kĩ thuật thay đổi và phát triển, sự điều chỉnh với các quy phạm, quy chuẩn an toàn, vệ sinh lao động cũng phải thay đổi đảm bảo thực hiện bởi liên quan trực tiếp đến tính mạng, sức khoẻ của người lao động. 5 Những kết luận tại hội nghị lao động quốc tế tháng 6 năm 2013 thì văn hóa an toàn lao động của một doanh nghiệp là sản phẩm các giá trị của cá nhân và tập thể như: thái độ, nhận thức, năng lực và mô hình của hành vi đó được xác định về an toàn lao động trong một doanh nghiệp. Hay văn hóa an toàn lao động trong doanh nghiệp là bao gồm thái độ, suy nghĩ, cách thức, hành vi của mỗi cá nhân, đơn vị hướng tới đảm bảo an toàn lao động, trở thành những giá trị nhân văn và không ngừng được hoàn thiện. Những giá trị và các quy tắc hành vi đảm bảo an toàn lao động của con người hình thành nên giá trị văn hóa an toàn.
(Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân, 2016) Có thể hiểu, khái niệm văn hóa an toàn lao động trong doanh nghiệp là một trạng thái của văn hóa tổ chức mà các giá trị về an toàn lao động được tôn trọng và phổ biến đối với mọi người, mọi lúc mọi nơi, từ nhận thức tới thái độ và hành động. Văn hóa an toàn lao động phải duy trì và củng cố phát triển mới đạt được hiệu quả từ yếu đến mạnh, từ ít bền vững đến bền vững và rất bền vững.2 Những khái niệm về môi trường và môi trường lao động Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 của Quốc hội khóa XIII (2015) định nghĩa: Môi trường lao động là không gian của khu vực lao động, nơi mà người lao động làm việc với các phương tiện phục vụ cho lao động (Bộ LĐTB &XH, 2015) Trong môi trường lao động thường có sự hiện diện của nhiều yếu tố nguy hiểm gây mất an toàn, làm tổn thương hoặc gây tử vong cho con người trong quá trình lao động và làm thiệt hại về tài sản, ô nhiễm môi trường. Đó là các bộ phận và cơ cấu chuyển động của máy móc, thiết bị, nguy hiểm điện, nguy hiểm nổ, nguy hiểm nhiệt, nguy hiểm do hóa chất công nghiệp. Môi trường lao động cũng là nơi chứa nhiều yếu tố có hại gây bệnh tật, làm suy giảm sức khỏe con người trong quá trình lao động như: vi khí hậu, tiếng ồn, rung động, phóng xạ, ánh sáng, bụi, các chất, hơi, khí độc, các sinh vật có hại.
Môi trường là các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, chúng bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Công việc quan trắc môi trường lao động là những hoạt động nhằm thu thập, phân tích, đánh giá số liệu đo lường các yếu tố của môi trường lao 6 động tại nơi làm việc để có biện pháp giảm thiểu tác hại đối với sức khỏe, phòng, chống bệnh nghề nghiệp. Theo tác giả Hoàng Trí (2006) đề cập trong giáo trình an toàn lao động và môi trường công nghiệp xem điều kiện môi trường lao động là điều kiện xung quanh của hệ thống lao động bao gồm: Đảm bảo sức khỏe và an toàn lao động, tránh căng thẳng trong lao động, tạo khả năng hoàn thành tốt công việc. Đảm bảo hoạt động chức năng của các trang thiết bị, tạo hứng thú lao động và nêu ra những yếu tố môi trường đó là: điều kiện chỗ làm việc (nhà máy, công sở, phân xưởng, văn phòng), trạng thái lao động (làm việc theo ca ngày, ca đêm, .), các phương tiện lao động, vật liệu sản xuất, các yếu tố tâm lý và sinh lý ảnh hưởng đến tình trạng người lao động (yếu tố tiêu cực, yếu tố tích cực, .) đều có tác động đến hiệu suất làm việc của người lao động.
Như vậy, các yếu tố điều kiện môi trường tác động trực tiếp lên người lao động trong doanh nghiệp.3 Những khái niệm liên quan đến sức khỏe và bệnh nghề nghiệp Bộ Luật lao động (2012) quy định bệnh nghề nghiệp là bệnh phát sinh mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp, do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu (Bộ LĐTB &XH, 2012) Sức khỏe nghề nghiệp là một lĩnh vực khoa học nghiên cứu về mối quan hệ giữa sức khỏe người lao động với môi trường, điều kiện lao động nghề nghiệp nhằm dự phòng các tác hại nghề nghiệp, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động và duy trì, nâng cao sức khỏe cho người lao động. Theo tác giả Hoàng Trí (2006) định nghĩa bệnh nghề nghiệp là sự làm suy yếu dần sức khỏe hay làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và sinh hoạt của người lao động do kết quả tác động của những điều kiện làm việc bất lợi (tiếng ồn, rung động, .) hoặc do thường xuyên tiếp xúc với các chất độc hại (sơn, bụi,.) có ảnh hưởng dần dần và lâu dài. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) và tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xác định những yêu cầu cần thiết đối với sức khỏe nghề nghiệp là tăng cường ở mức độ tốt nhất sự thoải mái về thể chất, tâm lý, xã hội của người lao động trong mọi nghề nghiệp. Dự phòng 7 mọi tổn hại về sức khỏe do điều kiện lao động xấu gây ra cho người lao động, đảm bảo cho mọi người lao động được làm những ngành nghề thích hợp với khả năng tâm sinh lý của người lao động hoặc đảm bảo các dịch vụ y tế lao động đến với mọi lao động, với bất kì độ tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, quy mô hoặc vị trí làm việc.4 Vai trò của pháp luật để bảo vệ người lao động trong vấn đề an toàn lao động tại các đơn vị sản xuất.
Theo điều 113 của Luật lao động năm 2012 thì mọi doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến lao động, sản xuất phải tuân theo các quy định của pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động. Như vậy an toàn lao động có vị trí, vai trò rất quan trọng là bảo vệ người lao động tránh khỏi các tai nạn gây thương tích, tổn hại đến sức khỏe, tinh thần hoặc chết chóc. Người lao động được đảm bảo các điều kiện làm việc an toàn và công bằng, đó là làm việc trong một môi trường lao động lành mạnh không bị ảnh hưởng bởi các yếu tô gây hại, ô nhiễm môi trường tại nơi làm việc và xung quanh khu vực lao động. Để đạt được điều này, theo pháp luật về lao động thì các cơ sở sản xuất kinh doanh, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến vấn đề sử dụng lao động phải thực hiện việc cung cấp thông tin đầy đủ các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc và những biện pháp phòng, chống tai nạn lao động có thể xảy ra tại cơ sở sản xuất của mình.
Bên cạnh đó người lao động cần được trang bị đầy đủ bảo hộ lao động phù hợp trong quá trình làm việc để đảm bảo an toàn lao động với từng loại công việc của các ngành nghề khác nhau. Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 của Quốc Hội khóa XIII quy định việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động, các chính sách, chế độ với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động công tác an toàn, vệ sinh lao động cũng như quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động. Người sử dụng lao động yêu cầu người lao động phải chấp hành các nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc, khen thưởng người lao động chấp hành tốt và kỷ luật người lao động vi phạm trong việc thực hiện an toàn, vệ sinh lao động.
Xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan. Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh 8 lao động. Người lao động phải được trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động.