Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1. Lý luận về giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay 1. Học sinh trung học cơ sở 1. Khái niệm Học sinh trung học cơ sở (THCS) là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, sau Tiểu học và trước Trung học phổ thông.
Trung học cơ sở kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9). Độ tuổi học sinh ở trường trung học cơ sở là từ 11 tuổi đến 15 tuổi. Sau khi học hết bậc Trung học cơ sở, học sinh sẽ được xét công nhận tốt nghiệp Trung học cơ sở. Như vậy, học sinh THCS là học sinh ở lứa tuổi từ 11 đến 15 tuổi, học từ lớp 6 đến lớp 9 của hệ thống giáo dục Việt Nam.
Đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở Tác giả Trương Thị Khánh Hà trong cuốn “Giáo trình tâm lý học phát triển” có nêu một số đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở như sau: Học sinh trung học cơ sở là một giai đoạn của lứa tuổi đặc biệt. Đó là giai đoạn ở giữa trẻ con và trưởng thành. Học sinh đã qua giai đoạn “trẻ con”, nhưng chưa đạt đến giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành. Đây là giai đoạn các em có nhiều biến đổi về tâm sinh lý theo cả hướng tích cực lẫn tiêu cực.
Về thể chất, các em có sự phát triển nhanh, tăng cân, tăng chiều cao, phát triển về hình thể và bắt đầu của giai đoạn dậy thì. Điều này dẫn tới sự thay đổi trong quan hệ bạn bè, nhất là với bạn khác giới. Về nhận thức, các em có nhu cầu, khao khát khám phá cái mới trong cuộc sống. Đây là điều kiện để phát triển tư duy của trẻ, nhất là tư duy lý luận và logic.
Nhu cầu khám phá cái mới này cũng dẫn các em đến việc tìm hiểu những vấn đề không phù hợp với chuẩn mực xã hội. Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu tự khẳng định cao. Về mặt cảm xúc, học sinh THCS đã bắt đầu quan tâm nhiều đến tình bạn. Nhu cầu giao tiếp với bạn rất lớn, trong đó có tình bạn khác giới.
Tình bạn khác giới nhiều khi ảnh hưởng tiêu cực đến học tập và cuộc sống của học sinh lứa tuổi này như sao nhãng học tập, buồn vui, cáu gắt, sống hướng nội, ít chia sẻ với cha mẹ, dễ bị tình cảm của bạn bè cùng trang lứa tác động. 11 Luan van Về mặt hành vi, các em có nhu cầu khám phá cái mới, nên luôn có mong muốn và thực hiện trải nghiệm cái mới để khẳng định cái tôi của mình, khẳng định sự trưởng thành của mình trước mọi người. Đây là một nguyên nhân lý giải cho một bộ phận học sinh THCS đua xe trái phép, nghiện hút ma túy, nghiện game online, nghiện internet, tham gia vào bạo lực học đường… Ngoài ra, do nhu cầu tự khẳng định cao, nên đôi khi các em có hành vi phản ứng, chống đối lại bố mẹ, hay người lớn tuổi. Một số em bỏ nhà ra đi tham gia vào các nhóm bạn không chính thức, tiêu cực.
Tất cả các đặc điểm tâm lý trên đều liên quan và tác động đến giáo dục giá trị sống cho học sinh. Ví dụ, giáo dục giá trị Hòa bình cho học sinh, chúng ta phải chú ý đến đặc điểm tâm lý thích khẳng định bản thân, khẳng định cái tôi của học sinh. Vì thích khẳng định bản thân, khẳng định cái tôi của học sinh mà các em sẵn sàng tham gia vào hành vi bạo lực học đường. Giáo dục giá trị hòa bình là giáo dục cho các em một môi trường bình yên, không có bạo lực.
Giáo dục để ngăn chặn bạo lực học đường. Khi giáo dục giá trị này cần chú ý đến đặc điểm tâm lý trên của học sinh [16]. Giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở trong bối cảnh hiện nay 1. Khái niệm giá trị Tác giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “Giá trị là tính có nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể”.
Một lần nữa, chính cái lợi ích của con người là chuẩn để đánh giá giá trị của đối tượng [17]. Giá trị được hiểu từ hai góc độ: Vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất là giá trị được đo được bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người niềm tin, hứng thú, động lực và sức mạnh trong cuộc sống. Hành vi của chủ thể trong mối quan hệ với sự vật mang giá trị và cả trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tượng khác trong cuộc sống.
Có thể xác định khái niệm giá trị như sau: Giá trị là mức độ của một sự vật đáp ứng nhu cầu và thoả mãn được khát vọng của con người, là cái được chủ thể đánh giá, thừa nhận trên cơ sở mối quan hệ với sự vật đó. Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân, lợi ích xã hội, với phí tổn cần thiết để tạo ra cái lợi đó. Khái niệm giá trị sống Giá trị sống là những giá trị cần thiết để con người sống và thích ứng với cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Trong luận văn này khái niệm giá trị sống được xác định như sau: 12 Luan van Giá trị sống là những thứ về tinh thần và giá trị của vật chất giúp con người sống có ý nghĩa.
- Giá trị sống là những thứ được cá nhân nhận thức là rất quan trọng, rất cần thiết, rất có ý nghĩa, luôn mong đợi, chúng có khả năng chi phối thái độ, xúc cảm, tình cảm, hành vi của một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày. - Giá trị sống của một cá nhân bao gồm: giá trị vật chất như tài sản; giá trị tinh thần như tri thức, sức khỏe, tình yêu thương, sự trung thực, danh dự… mà con người cần có trong cuộc sống. - Giá trị sống của mỗi cá nhân không hình thành tự nhiên theo kiểu lập trình được mã hóa trong gen mà nó được hình thành nhờ quá trình tự nhận thức và sự trải nghiệm của mỗi người. - Giá trị sống là những phẩm chất tốt đẹp của con người, làm cho con người trở nên có giá trị và có cuộc sống tốt đẹp hơn.
Giá trị sống định hướng cho hành vi ứng xử của chúng ta, khi ta luôn trải nghiệm và cư xử với mọi người bằng những giá trị thì những giá trị sẽ trở thành phẩm chất của mỗi chúng ta và sẽ đi cùng chúng ta suốt cuộc đời. Nó chính là thước đo trình độ văn hoá của mỗi con người, bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc. Khái niệm giáo dục giá trị sống Giáo dục giá trị sống là quá trình giúp học sinh tiếp thu, lĩnh hội được những giá trị phổ quát của xã hội, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của cộng đồng, xã hội. Giáo dục giá trị sống là một quá trình tổ chức tác động có chủ định của các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo, để tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh, nhằm phát huy tính tích cực tự giác rèn luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt động xã hội.
Dựa vào khái niệm giá trị sống và giáo dục, có thể xác định khái niệm giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS như sau: Giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS là quá trình nhà giáo dục tổ chức, hướng dẫn các hoạt động giúp các em chuyển hóa những giá trị khách quan được xã hội thừa nhận thành giá trị sống đặc trưng của bản thân, giúp các em có nhận thức, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của cộng đồng, xã hội. Mục đích giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở - Giúp các cá nhân học sinh nghĩ và suy ngẫm các giá trị sống và đưa ra những cách thức áp dụng các giá trị sống vào thực tế để thể hiện bản thân trong quan hệ với bản thân (nội tại), quan hệ với người khác, với cộng đồng và xã hội. - Giúp học sinh đào sâu sự hiểu biết về các giá trị sống, hình thành động cơ và trách nhiệm để có lựa chọn những hành vi tích cực cho cá nhân và xã hội. - Tạo cảm hứng cho học sinh lựa chọn những giá trị xã hội, đạo đức và tinh thần, những giá trị của riêng mình để phát huy các giá trị này trong hoạt động học tập và cuộc sống cá nhân.
- Tạo cho học sinh triết lý sống, từ đó phát triển toàn diện nhân cách của học sinh, giúp học sinh có thể hòa nhập vào cộng đồng với sự tôn trọng, tự tin và có mục đích. Nội dung giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở Giáo dục cho học sinh trung học cơ sở 12 giá trị sống theo Chương trình giáo dục giá trị sống cho trẻ 8-14 tuổi dưới sự hỗ trợ của UNESCO. Đó là các giá trị: 1) Hòa bình; 2) Tôn trọng; 3) Tình yêu; 4) Khoan dung; 5) Hạnh phúc; 6) Trách nhiệm; 7) Hợp tác; 8) Khiêm tốn; 9) Trung thực; 10) Giản dị; 11) Tự do; 12) Đoàn kết. Đối với mỗi giá trị tập trung vào giáo dục học sinh những vấn đề sau: Mục tiêu và nội dung giáo dục của giá trị.
Cụ thể là: 1) Giá trị Hòa Bình: a. Mục tiêu của giáo dục giá trị hòa bình: - Giúp học sinh trải nghiệm hòa bình đối với bản thân mình (suy nghĩ về hòa bình; xác định cuộc sống bình yên; thể hiện hòa bình qua các hoạt động nghệ thuật – hát vẽ). - Giúp học sinh tăng cường hiểu biết về các thành tố tạo nên một thế giới hòa bình (Học sinh tưởng tượng về một thế giới hòa bình; sự khác nhau giữa cuộc sống hòa bình và cuộc sống xung đột; tham gia các chủ đề về hòa bình). - Hình thành ở học sinh các kỹ năng giải quyết xung đột (Tham gia giải các bài tập, tình huống xung đột; xây dựng câu chuyên về một nhân vật đấu tranh cho hòa bình).