MỞ ĐẦU Việt Nam đƣợc đánh giá là 1 trong 10 Quốc gia có tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao trên thế giới, với các hệ sinh thái tự nhiên phong phú. Sự đa dạng về hệ sinh thái và tài nguyên sinh vật đƣợc thể hiện ở các giá trị chính nhƣ: bảo vệ thiên nhiên và môi trƣờng, văn hóa - xã hội và kinh tế. Các hệ sinh thái còn có ý nghĩa bảo vệ tài nguyên đất và nƣớc, điều hoà khí hậu, giảm nhẹ tác hại ô nhiễm và thiên tai. Bên cạnh đó, ĐDSH đóng góp lớn cho nền kinh tế Quốc gia, là cơ sở đảm bảo an ninh lƣơng thực; duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dƣợc liệu.
Về lý thuyết, có thể nhận thấy rõ những giá trị quan trọng của các hệ sinh thái tự nhiên nói chung và ĐDSH nói riêng. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết hoặc đánh giá thấp giá trị của ĐDSH là một trong những nguyên nhân gây nên sự giảm sút về ĐDSH hiện nay. Lƣợng hóa kinh tế là công cụ có thể làm rõ đƣợc giá trị của ĐDSH nói riêng cũng nhƣ tổng giá trị kinh tế của hệ sinh thái nói chung. Kết quả lƣợng hóa kinh tế sẽ giúp các nhà quản lý đƣa ra những quyết sách hợp lý trƣớc những sức ép trong phát triển kinh tế.
Trƣớc thực trạng trên, luận văn lựa chọn đề tài “Lượng hóa một số giá trị kinh tế của Vườn quốc gia Cúc Phương góp phần bảo tồn đa dạng sinh học”. Cúc Phƣơng đƣợc biết đến là VQG đầu tiên và cũng là đơn vị bảo tồn thiên nhiên đầu tiên của Việt Nam với tính đa dạng sinh học cao. Thông qua kết quả lƣợng hóa giá trị kinh tế của Cúc Phƣơng, các nhà quản lý sẽ tính toán đƣợc lợi ích và chi phí của các phƣơng án sử dụng tài nguyên khác nhau, từ đó lựa chọn đƣợc phƣơng án phân bổ tài nguyên thích hợp, mang lại lợi ích lớn nhất cho xã hội và cộng đồng. Bên cạnh đó, lƣợng hoá giá trị VQG Cúc Phƣơng sẽ giúp cho quá trình hoạch định chính sách phát triển, cụ thể là lựa chọn phƣơng án bảo tồn hay các dự án phát triển.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: Tổng hợp, phân tích các phƣơng pháp lƣợng hóa giá trị kinh tế và tổng quan một số kết quả lƣợng hóa trên thế giới và tại Việt Nam; Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu; 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhận diện các giá trị kinh tế của Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng; Lƣợng hóa một số giá trị kinh tế của Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng; Đề xuất các giải pháp góp phần bảo tồn đa dạng sinh học tại Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. Mối quan hệ giữa hệ thống sinh thái của vƣờn quốc gia và hệ thống kinh tế Xem xét mối quan hệ hữu cơ giữa hệ thống sinh thái và hệ thống kinh tế là xuất phát điểm của việc tiếp cận lƣợng hóa giá trị kinh tế của các VQG. Trong HST, tại mọi thời điểm luôn có sự tác động qua lại giữa cấu trúc, quy trình và chức năng của hệ thống.
Cấu trúc của HST bao gồm các thành phần vô cơ và hữu cơ. Các quá trình bao gồm sự chuyển hóa vật chất và năng lƣợng. Tác động qua lại giữa cấu trúc và các quá trình hình thành nên chức năng sinh thái của các HST nói chung và của các VQG nói riêng. Đến lƣợt mình, các chức năng này lại cung cấp các hàng hóa, dịch vụ môi trƣờng và mang lại lợi ích cho con ngƣời.1 trình bày mối liên hệ giữa HST của các VQG và hệ thống kinh tế.
Các thuộc tính của hệ sinh thái: - Sinh học Hệ sinh thái - Hóa học - Vật lý Quá trình Cấu trúc Chức năng hệ sinh thái VQG Hệ sinh thái và Giao diện giữa hệ thống kinh Sử dụng VQG Các hàng hóa Các dịch vụ tế Các giá trị của VQG Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng: Hệ thống kinh té trực tiếp gián tiếp Giá trị tồn tại Giá trị lƣu truyền Giá trị tùy chọn Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng Tổng giá trị kinh tế Hình 1.1: Mối liên hệ giữa hệ sinh thái của các vƣờn quốc gia và hệ thống kinh tế 11 (Nguồn:[9]) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nếu con ngƣời có sự ƣa thích (preference) đối với các lợi ích nói trên và sẵn lòng chi trả (WTP) để nhận thêm một lƣợng lợi ích nhất định từ HST VQG thì các lợi ích này sẽ có giá trị kinh tế. Giá trị kinh tế chỉ xuất hiện khi có sự tương tác giữa các chủ thể và khách thể kinh tế. Cụ thể hơn, các thuộc tính môi trƣờng của VQG chỉ có giá trị kinh tế khi nó xuất hiện trong hàm lợi ích của một cá nhân (individual utility function) hoặc hàm chi phí của một doanh nghiệp (firm production function). Nhƣ vậy, các chức năng của HST tự nó không mang lại giá trị kinh tế; thay vì đó, các chức năng cung cấp các hàng hóa và dịch vụ và việc sử dụng các hàng hóa và dịch vụ đó mới mang lại các giá trị kinh tế cho con người.[16] Nhƣ trong hình 1.1, các chức năng của HST trong VQG là cung cấp các hàng hóa và dịch vụ cho hệ thống kinh tế.
Về cơ bản, chức năng sinh thái của HST VQG là kết quả của sự tƣơng tác liên tục giữa các cấu trúc và quá trình sinh thái. Chức năng điều tiết: có liên quan đến năng lực của HST trong việc điều tiết các quá trình căn bản của HST và hệ thống hỗ trợ đời sống (life support systems) thông qua chu trình sinh địa hóa và các quá trình sinh học. Chức năng cư trú: của HST liên quan đến việc cung cấp địa bàn cƣ trú và sinh sản cho các sinh vật, từ đó giúp bảo tồn và duy trì nguồn gen, ĐDSH và quá trình tiến hóa. Chức năng sản xuất: quá trình quang hợp của HST chuyển hóa năng lƣợng, khí CO2, nƣớc và các chất dinh dƣỡng thành nhiều dạng cấu trúc cacbon.
Các cấu trúc này sau đó đƣợc sử dụng bởi các sinh vật để tổng hợp thành sinh khối của hệ. Sự đa dạng trong cấu trúc cacbon cung cấp hàng hóa sinh thái cho con ngƣời nhƣ thực phẩm, nguyên liệu thô hay các nguồn năng lƣợng. Chức năng thông tin: HST cung cấp thông tin cơ bản cho đời sống tinh thần của con ngƣời nhƣ giải trí, thẩm mỹ, văn hóa, tôn giáo, khoa học, giáo dục. Tổng giá trị kinh tế của vƣờn quốc gia 1.
Khái niệm tổng giá trị kinh tế môi trƣờng (TEV) Khái niệm về TEV của môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên đƣợc Pearce 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đƣa ra vào năm 1993. Từ đó đến nay, khái niệm này đã trở thành then chốt trong việc xác định và phân loại các lợi ích của môi trƣờng và tài nguyên. Tổng hợp từ nhiều tƣ liệu nghiên cứu cho thấy, hiện nay có 2 cách tiếp cận khi xác định TEV của rừng đó là cách tiếp cận theo lợi ích sử dụng và cách tiếp cận theo tổng lợi ích. Cách tiếp cận giá trị của rừng theo lợi ích sử dụng cho rằng: TEV của HST là tổng thể những lợi ích mà một HST trực tiếp hoặc gián tiếp mang lại cho cộng đồng và xã hội.
Cách tiếp cận giá trị của rừng theo tổng lợi ích cho rằng: TEV của HST đƣợc phân thành 2 loại là giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Từ những khái niệm trên có thể hiểu TEV của rừng đƣợc sơ đồ hóa trong hình 1.[9] Tổng giá trị kinh tế của VQG (TEV) Giá trị sử dụng Giá trị phi sử dụng Giá trị Giá trị sử Giá trị Giá trị Giá trị sử dụng dụng gián lựa chọn lƣu truyền tồn tại trực tiếp tiếp Lợi ích từ Các giá trị sử Giá trị sử Các sản Giá trị từ các chức dụng trực tiếp dụng và phi phẩm có nhận thức sự năng sinh hoặc gián tiếp sử dụng cho thể đƣợc tồn tại của thái trong tƣơng lai. tƣơng lai tiêu dùng tài nguyên trực tiếp Hình 1.2: Mô hình hóa Tổng giá trị kinh tế của rừng (Nguồn: [10]) 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các giá trị kinh tế của vƣờn quốc gia A.
Giá trị sử dụng Giá trị sử dụng là những lợi ích thu đƣợc từ việc sử dụng các nguồn tài nguyên. Có thể hiểu giá trị sử dụng là giá trị các cá nhân gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp. Giá trị sử dụng bao gồm: Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value – DUV): là giá trị các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trực tiếp cung cấp cho con ngƣời. Chẳng hạn, giá trị sử dụng trực tiếp gồm các sản phẩm thực vật (gỗ, củi, rau quả, thuốc dƣợc liệu…), các sản phẩm động vật, du lịch/giải trí, giao thông.
Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value – IUV) Giá trị sử dụng gián tiếp là các giá trị kinh tế do các dịch vụ môi trƣờng và chức năng sinh thái sinh của VQG tạo ra nhƣ phòng hộ đầu nguồn, kiểm soát xói mòn, giữ đất, giữ nƣớc, điều hoà không khí, hấp thụ CO2, cung cấp O2 … Giá trị lựa chọn (Option Value – OP): là giá trị mà mỗi cá nhân sẵn sàng chi trả để bảo tồn tài nguyên hoặc một phần nguồn tài nguyên để họ đƣợc sử dụng trong tƣơng lai. Đây là giá trị có đƣợc từ nhận thức, lựa chọn của con ngƣời đặt ra trong hệ sinh thái. Giá trị phi sử dụng Giá trị phi sử dụng là thành phần giá trị của VQG thu đƣợc không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các hàng hóa dịch vụ do VQG cung cấp. Nó phản ánh giá trị từ nhận thức của con ngƣời về sự tồn tại của các giống loài hoặc của cả hệ sinh thái.
Giá trị về dịch vụ ĐDSH và giá trị về ý nghĩa xã hội, văn hóa là các giá trị phi sử dụng. Giá trị phi sử dụng bao gồm: Giá trị lưu truyền (Bequest Value – BV): là thành phần giá trị có đƣợc từ sự mong muốn bảo tồn và duy trì ĐDSH cho thế hệ tƣơng lai. Thông thƣờng, giá trị lƣu truyền đo lƣờng bằng sự chi trả của thế hệ hiện tại để bảo tồn ĐDSH cho con cháu họ sử dụng. Giá trị tồn tại (Existence Value – EV): là giá trị của VQG có đƣợc từ nhận thức rằng tài sản đó còn tồn tại.