Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự suy giảm nguồn gen động thực vật hoang dã trên phạm vi toàn cầu đang diễn ra với tốc độ đáng lo ngại, bắt nguồn chủ yếu từ các hoạt động chặt phá rừng và săn bắt trái phép phục vụ thương mại. Tình trạng này đẩy nhiều loài sinh vật vào nguy cơ tuyệt chủng. Trong số đó, Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) là loài thú móng guốc đặc hữu quý hiếm, được xếp vào Sách đỏ thế giới với mức độ đe dọa cực kỳ nghiêm trọng. Quần thể Sao La hiện chỉ phân bố rải rác dọc theo sườn Bắc và Tây dãy Trường Sơn, trong đó Vườn Quốc Gia (VQG) Pù Mát (tỉnh Nghệ An) được xác định là một trong những sinh cảnh trọng yếu, đưa loài động vật này trở thành biểu tượng đa dạng sinh học của khu bảo tồn.

Để hoạch định chính sách quản lý và phân bổ ngân sách đầu tư bảo tồn một cách thỏa đáng, công tác lượng giá giá trị kinh tế của hệ sinh thái và các loài sinh vật nguy cấp đóng vai trò nền tảng. Việc xác định giá trị bảo tồn bằng tiền giúp cơ quan quản lý có căn cứ khoa học để xây dựng cơ chế tài chính, tính toán mức phạt và mức bồi thường vi phạm môi trường. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Lương Thị Đức đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài: "Sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để đánh giá giá trị bảo tồn loài Sao La ở Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An".

Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề bao gồm ba nội dung chính:

  1. Giới thiệu đặc điểm sinh thái, hình thái học của loài Sao La và phân tích tầm quan trọng của loài trong hệ sinh thái VQG Pù Mát.
  2. Đánh giá thực trạng công tác bảo tồn loài Sao La cùng các áp lực sinh cảnh tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Ước lượng giá trị bảo tồn của Sao La bằng thước đo tiền tệ thông qua phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, từ đó đề xuất các kiến nghị và giải pháp quản lý, bảo tồn hiệu quả.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian: Địa bàn điều tra chọn mẫu tập trung tại 3 thôn/bản gồm Làng Xiềng, Thái Sơn và Cò Phạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An (nằm ở vùng lõi và vùng đệm của VQG Pù Mát).
  • Thời gian và dữ liệu: Công trình được hoàn thành năm 2009, sử dụng chuỗi số liệu điều tra sơ cấp phỏng vấn trực tiếp 150 hộ dân địa phương kết hợp cùng các tài liệu thống kê thứ cấp từ Dự án Lâm nghiệp xã hội và Bảo tồn thiên nhiên tỉnh Nghệ An (SFNC) và VQG Pù Mát.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết tổng giá trị kinh tế (TEV)

Khung lý thuyết của chuyên đề dựa trên mô hình Tổng giá trị kinh tế (Total Economic Valuation - TEV) của Katherine Bolt, Giovanni Ruta, Maria Sarraf (2005) và Mitchell & Carson (1989). Giá trị của hàng hóa môi trường được phân rã theo cấu trúc:

$$\text{TEV} = \text{UV} + \text{NUV} = (\text{DUV} + \text{IDUV}) + (\text{OV} + \text{BV} + \text{EXV})$$

Trong đó:

  • Giá trị sử dụng (Use Value - UV):
    • Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV): Lợi ích khai thác trực tiếp có giá thị trường (gỗ, lâm sản, dược liệu, du lịch).
    • Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IDUV): Lợi ích từ chức năng sinh thái (bảo vệ đất, điều tiết nguồn nước, hấp thụ carbon).
  • Giá trị phi sử dụng (Non-Use Value - NUV):
    • Giá trị lựa chọn/tùy chọn (Option Value - OV): Lợi ích tiềm tàng của tài nguyên được duy trì để sử dụng trong tương lai hoặc giá trị sử dụng cho người khác.
    • Giá trị tùy thuộc/lưu truyền (Bequest Value - BV): Lợi ích từ việc bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ tương lai, phụ thuộc vào từng hệ sinh thái đặc thù.
    • Giá trị tồn tại (Existence Value - EXV): Sự thỏa mãn thuần túy từ việc biết rằng loài sinh vật hoặc hệ sinh thái tiếp tục tồn tại, không gắn với bất kỳ mục đích sử dụng trực tiếp nào.

Đối với loài Sao La, giá trị kinh tế chủ yếu nằm ở phần giá trị phi sử dụng (đặc biệt là giá trị tồn tại và lưu truyền), do loài không có giá trị thương phẩm cao nhưng mang ý nghĩa sinh thái toàn cầu.

Khái niệm Mức sẵn lòng chi trả (WTP) và hàm WTP

Nghiên cứu sử dụng thước đo Mức sẵn lòng chi trả (Willingness to Pay - WTP) để lượng hóa cường độ ưa thích và mức độ đóng góp tài chính của cộng đồng cho công tác bảo tồn. Phần thặng dư tiêu dùng được xác định qua diện tích tam giác thặng dư trên đường cầu giả định. Hàm WTP lý thuyết có dạng:

$$\text{WTP} = f(w_i, a_i, e_i, q_i)$$

Với $w_i$ là biến thu nhập, $a_i$ là biến độ tuổi, $e_i$ là trình độ học vấn, và $q_i$ là biến đo lường số lượng/chất lượng môi trường của quan sát thứ $i$.

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) được triển khai theo quy trình 5 bước chuẩn hóa (Markandya et al., 2002):

  1. Xác định mục tiêu và đối tượng: Thiết lập đối tượng cần đánh giá (loài Sao La), đơn vị đo lường và phạm vi khảo sát.
  2. Thiết kế công cụ bảng hỏi: Xây dựng kịch bản thị trường giả định, lồng ghép các câu hỏi về thông tin kinh tế - xã hội, mức độ nhận thức về loài và kỹ thuật thu thập WTP (sử dụng câu hỏi mở và thẻ in sẵn mức giá đóng góp).
  3. Chọn mẫu điều tra: Xác định kích thước mẫu theo công thức thống kê:

$$n \ge \frac{\delta^2}{\epsilon_0^2} \cdot (u_{\alpha/2})^2$$

Với độ sai số $\epsilon = 5,5%$, độ tin cậy $\alpha = 0,90$ ($u_{\alpha/2} = 1,96$). Từ quy mô 1.770 hộ của xã Môn Sơn, công cụ CustomInsight tính toán cỡ mẫu cần thiết là 143 phiếu; tác giả tiến hành điều tra thực tế với $n = 150$ phiếu. 4. Xử lý và phân tích số liệu: Kiểm tra tính hợp lệ của phiếu, loại bỏ phiếu không đạt, mã hóa các biến số kinh tế - xã hội và tính toán các chỉ số thống kê mô tả. 5. Ước lượng WTP: Tính toán giá trị WTP trung bình của từng cá nhân/hộ gia đình và ngoại suy tổng giá trị bảo tồn.

Nghiên cứu cũng tổng quan các loại thiên lệch thường gặp trong CVM để hạn chế sai số: thiên lệch một phần - toàn phần (part-whole bias), thiên lệch theo phương tiện thanh toán (vehicle bias giữa quỹ từ thiện và thuế), và thiên lệch điểm khởi đầu (starting point bias).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan về phương pháp đánh giá hàng hoá và dịch vụ phi thị trường áp dụng cho loài Sao La

Chương I hệ thống hóa cơ sở lý luận về kinh tế học môi trường, khẳng định chất lượng môi trường và đa dạng sinh học là hàng hóa công cộng phi thị trường cần được lượng giá. Tác giả phân tích chi tiết cấu trúc tổng giá trị kinh tế (TEV), bản chất của phương pháp CVM và cơ chế xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP)/mức sẵn lòng chấp nhận (WTA).

Bên cạnh đó, chương này tổng kết thực tiễn áp dụng CVM trên thế giới thông qua các tiền lệ nghiên cứu:

  • Đánh giá lợi ích cải thiện chất lượng không khí của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (USEPA, 1997; Krupnick & Cropper, 1992).
  • Nghiên cứu chi phí - lợi ích của Ngân hàng Thế giới (World Bank - Griffin et al., 1995) trong dự án cấp thoát nước tại Kerala (Ấn Độ), đạt mức dự báo chính xác 91% so với thực tế.
  • Khảo sát WTP của Desvousges et al. (1987) đối với chất lượng nước sông Monongahela (Pennsylvania, Hoa Kỳ) qua ba kịch bản chất lượng nước:
Kịch bản chất lượng nước WTP trung bình toàn mẫu ($) WTP nhóm sử dụng ($) WTP nhóm không sử dụng ($)
Kịch bản 1: Giữ nguyên mức bơi thuyền 24,5 45,3 14,2
Kịch bản 2: Nâng lên mức câu cá 17,6 31,3 10,8
Kịch bản 3: Nâng lên mức tắm được 12,4 20,2 8,5
  • Ứng dụng CVM trong bồi thường sự cố tràn dầu Nestucca và Exxon Valdez (Rowe et al., 1992; Carson et al.).

Chương II: Hiện trạng Vườn Quốc Gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An

Chương II phác thảo toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên sinh vật tại địa bàn nghiên cứu:

  • Hiện trạng khu bảo tồn: VQG Pù Mát được chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên theo Quyết định 174/QĐ/TTg ngày 08/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ, nằm trên địa giới 3 huyện: Con Cuông, Anh Sơn và Tương Dương (tọa độ từ $18^\circ 46'$ đến $19^\circ 12'$ vĩ Bắc; $104^\circ 24'$ đến $104^\circ 56'$ kinh Đông). Tổng diện tích là 91.113 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 89.517 ha; phân khu phục hồi sinh thái: 1.596 ha), vùng đệm rộng 86.000 ha. Địa hình núi cao dốc đứng từ 200 m đến 1.814 m (đỉnh Pù Mát), 90% diện tích nằm dưới 1.000 m. Hệ thống lưu vực gồm 4 sông chính: Khe Thơi, Khe Bu, Khe Choang, Khe Khang đổ ra sông Cả và hệ thống sông Giăng.
  • Đa dạng khu hệ sinh vật: Dựa trên kết quả điều tra của Dự án SFNC (1998, 1999) và Kemp et al., VQG Pù Mát ghi nhận hệ động vật phong phú gồm 939 loài thuộc 124 họ, 36 bộ; trong đó có 77 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam 1992 và 62 loài thuộc Danh lục đỏ IUCN 1996. Hệ thực vật bậc cao có mạch gồm 1.297 loài thuộc 607 chi, 160 họ của 6 ngành (ngành Ngọc Lan chiếm ưu thế với 1.205 loài; 330 loài cây lấy gỗ, 197 loài cây thuốc, 74 loài cây cảnh, 118 loài cây thực phẩm; có 37 loài trong Sách đỏ Việt Nam).
Nhóm phân loại động vật Số bộ Số họ Số loài Số loài trong Sách đỏ VN (1992) Số loài theo IUCN (1996)
Thú (Mammalia) 12 29 132 40 31
Chim (Aves) 15 46 287 12 24
Bò sát (Reptilia) 2 15 48 16 4
Lưỡng cư (Amphibia) 1 7 22 3 7
Cá (Pisces) 5 14 51 6 -
Bướm ngày (Rhopalocera) 1 11 305 - -
Bướm đêm (Heterocera) - 2 94 - -
Tổng cộng 36 124 939 77 62
  • Thông tin loài Sao La: Tên khoa học Pseudoryx nghetinhensis, thuộc họ Trâu bò (Bovidae), bộ Ngón chẵn (Artiodactyla). Được phát hiện lần đầu tiên trên thế giới vào tháng 5/1992 tại Pù Mát trong đợt khảo sát chung giữa Bộ Lâm nghiệp và WWF. Kích thước cơ thể: dài khoảng 1.500 mm, đuôi dài 130–170 mm, tai dài 9–10 mm, bàn chân sau 32 mm, cân nặng 80–120 kg. Cả đực và cái đều có sừng thẳng vuốt nhọn dài 400–500 mm. Sao La kiếm ăn đơn lẻ vào sáng sớm, chiều tà hoặc ban đêm tại độ cao 200–500 m; thức ăn gồm 39 loài thực vật (cỏ sữa lá lớn là thức ăn ưa thích; cá thể non ăn 57 loài thực vật theo Đỗ Tước). Quần thể tại Pù Mát ước tính dưới 100 cá thể trong tổng số dưới 1.000 cá thể trên toàn dãy Trường Sơn (Việt Nam và Lào).
  • Áp lực và mối đe dọa: Tình trạng khai thác gỗ lậu (Pơ mu, các loài họ Dầu), săn bắt bẫy thú rừng, tập tục đốt nương làm rẫy ở phân khu Khe Khặng và đào vàng sa khoáng trái phép tại Khe Thơi gây ô nhiễm nguồn nước và suy thoái sinh cảnh.

Chương III: Đánh giá giá trị bảo tồn loài Sao La ở Vườn Quốc Gia Pù Mát

Chương III trình bày quá trình khảo sát thực địa và phân tích đặc điểm mẫu điều tra tại xã Môn Sơn (huyện Con Cuông). Kết cấu bảng hỏi được phân định thành 3 nhóm thông tin: nhân khẩu học kinh tế - xã hội, mức độ hiểu biết về loài Sao La, và mức sẵn lòng chi trả (WTP).

Tổng hợp đặc điểm kinh tế - xã hội của 150 đối tượng tham gia phỏng vấn ghi nhận:

  • Cơ cấu giới tính: Nam giới chiếm 59,33% (89 người), nữ giới chiếm 40,67% (61 người).
  • Phân bố độ tuổi: Dao động từ 16 đến 65 tuổi; độ tuổi trung bình là 41 tuổi; độ tuổi xuất hiện nhiều nhất là 39 tuổi. Nhóm tuổi 16–30 chiếm 18%, nhóm 31–55 chiếm 70%, và nhóm trên 55 tuổi chiếm 12%.
  • Thành phần dân tộc: Dân tộc Thái chiếm đa số với 60% (90 người), dân tộc Đan Lai chiếm 30% (45 người, tập trung ở bản Cò Phạt), dân tộc Kinh chiếm 10% (15 người).
  • Trình độ học vấn: Trình độ hết cấp II chiếm 70%, hết cấp III chiếm 20%, trình độ trung cấp/cao đẳng/đại học chiếm 10%.
  • Nghề nghiệp và thu nhập: Nguồn thu chính của các hộ gia đình đến từ sản xuất nông nghiệp (trồng lúa 3 vụ/năm, năng suất 54–57,8 tạ/ha/vụ; trồng hoa màu; chăn nuôi gia súc) và khai thác lâm nghiệp, giao khoán bảo vệ rừng. Nghề phụ dệt thổ cẩm truyền thống của đồng bào Thái tại Môn Sơn và Lục Dạ đóng góp thêm vào kinh tế hộ nhưng chưa phát triển thành nguồn thu chính.
Đặc điểm nhân khẩu học Phân loại Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 89 59,33
Nữ 61 40,67
Độ tuổi 16 – 30 tuổi 27 18,00
31 – 55 tuổi 105 70,00
Trên 55 tuổi 18 12,00
Dân tộc Thái 90 60,00
Đan Lai 45 30,00
Kinh 15 10,00
Học vấn Hết cấp II 105 70,00
Hết cấp III 30 20,00
Trung cấp / Cao đẳng / Đại học 15 10,00

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận của kinh tế học môi trường về phân rã tổng giá trị kinh tế (TEV), chứng minh khả năng áp dụng của phương pháp CVM trong việc định lượng các giá trị phi sử dụng của loài động vật đặc hữu nguy cấp tại Việt Nam.
  2. Cung cấp bức tranh toàn diện về hiện trạng đa dạng sinh học VQG Pù Mát với 939 loài động vật và 1.297 loài thực vật bậc cao; tổng hợp đầy đủ các dẫn liệu thực địa về sinh thái học, tập tính, phổ thức ăn (39 loài) và vùng phân bố hẹp (200–500 m) của loài Sao La.
  3. Thu thập và phân tích thành công bộ dữ liệu khảo sát sơ cấp $n = 150$ tại xã Môn Sơn, phản ánh sát thực đặc điểm nhân khẩu học, sinh kế nông - lâm nghiệp và mức độ nhận thức của các cộng đồng dân tộc thiểu số (Thái, Đan Lai) sống tại vùng đệm và vùng lõi khu bảo tồn.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

  • Quản lý và thực thi pháp luật: Tăng cường kiểm soát lâm sản, triệt phá dứt điểm các điểm khai thác vàng trái phép tại Khe Thơi và nạn khai thác gỗ Pơ mu, họ Dầu; ngăn chặn tình trạng đặt bẫy động vật hoang dã.
  • Phát triển sinh kế vùng đệm: Mở rộng giao khoán bảo vệ rừng gắn với chi trả dịch vụ môi trường; hỗ trợ kỹ thuật thâm canh nông nghiệp 3 vụ/năm để hạn chế phá rừng làm rẫy ở phân khu Khe Khặng; đầu tư phát triển làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống gắn với du lịch sinh thái tại xã Môn Sơn và Lục Dạ.
  • Tuyên truyền và huy động cộng đồng: Nâng cao nhận thức bảo tồn cho đồng bào vùng cao, lồng ghép cơ chế đóng góp công lao động hoặc tài chính phù hợp với khả năng chi trả của người dân địa phương để thành lập quỹ bảo tồn loài Sao La.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi điều tra thực địa của chuyên đề chỉ mới tập trung tại 3 thôn/bản thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, chưa mở rộng sang các xã lân cận của huyện Anh Sơn và Tương Dương (hai huyện cùng nằm trong địa giới VQG Pù Mát). Trình độ học vấn của đối tượng khảo sát chủ yếu ở mức cấp II (chiếm 70%), sinh kế phụ thuộc vào trợ cấp chương trình 135 nên khả năng chi trả bằng tiền mặt có những giới hạn nhất định so với việc đóng góp bằng ngày công lao động.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát sang các đối tượng hưởng lợi gián tiếp như khách du lịch và cư dân đô thị; áp dụng các mô hình hồi quy đa biến (như Tobit hoặc Logit/Probit) để lượng hóa chính xác mối quan hệ giữa biến phụ thuộc WTP với các biến độc lập (thu nhập, học vấn, khoảng cách địa lý, mức độ nhận thức).

Giá trị tham khảo

Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế môi trường, Kinh tế & Quản lý tài nguyên, Quản trị môi trường đô thị và Lâm nghiệp khi tìm hiểu kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và quy trình triển khai phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM).
  • Các nhà nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học và các tổ chức phi chính phủ (WWF, IUCN) cần nguồn tư liệu thực địa chi tiết về khu hệ sinh vật VQG Pù Mát cũng như các đặc điểm sinh học của loài Sao La.
  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp trong việc tham khảo các giải pháp quản lý xung đột bảo tồn - sinh kế cộng đồng vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng và địa bàn điều tra thực địa của chuyên đề được lựa chọn như thế nào?
Nghiên cứu chọn đối tượng là các hộ gia đình sinh sống tại 3 thôn/bản gồm Làng Xiềng, Thái Sơn và Cò Phạt thuộc xã Môn Sơn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Quy mô mẫu khảo sát là 150 phiếu phỏng vấn trực tiếp, được tính toán từ tổng thể 1.770 hộ trên phần mềm CustomInsight (với sai số $\epsilon = 5,5%$ và độ tin cậy $\alpha = 0,90$).

2. Khung lý thuyết Tổng giá trị kinh tế (TEV) áp dụng cho loài Sao La gồm những thành phần nào?
Tổng giá trị kinh tế gồm Giá trị sử dụng (sử dụng trực tiếp DUV và gián tiếp IDUV) và Giá trị phi sử dụng (giá trị lựa chọn OV, giá trị lưu truyền BV và giá trị tồn tại EXV). Với loài Sao La, giá trị kinh tế chủ yếu cấu thành từ giá trị tồn tại (EXV) và giá trị lưu truyền (BV).

3. Vườn Quốc Gia Pù Mát ghi nhận bao nhiêu loài động, thực vật có tên trong Sách đỏ?
VQG Pù Mát ghi nhận 77 loài động vật nằm trong Sách đỏ Việt Nam 1992 (trong đó có 15 loài mức E, 33 loài mức V) và 62 loài thuộc Danh lục đỏ IUCN 1996. Về thực vật, có 37 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 20 loài được liệt kê trong danh mục đỏ IUCN 2002.

4. Loài Sao La được phát hiện khi nào và có những đặc điểm sinh thái tiêu biểu gì tại Pù Mát?
Sao La được phát hiện lần đầu tiên vào tháng 5/1992 tại VQG Pù Mát qua đợt khảo sát của Bộ Lâm nghiệp và WWF. Loài nặng 80–120 kg, có sừng dài 400–500 mm, phân bố ở độ cao từ 200–500 m, sống đơn lẻ và sử dụng 39 loài thực vật làm thức ăn (ưa thích cỏ sữa lá lớn). Số lượng cá thể tại Pù Mát ước tính dưới 100 con.

5. Cơ cấu nhân khẩu học của 150 người tham gia phỏng vấn tại xã Môn Sơn phân bố ra sao?
Mẫu khảo sát có 59,33% nam và 40,67% nữ; độ tuổi trung bình là 41 tuổi (70% thuộc nhóm 31–55 tuổi); dân tộc Thái chiếm 60%, Đan Lai chiếm 30%, Kinh chiếm 10%; trình độ học vấn hết cấp II chiếm tỷ lệ 70%, cấp III chiếm 20% và cao đẳng/đại học chiếm 10%.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Đức đã vận dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để nghiên cứu giá trị kinh tế phi thị trường của loài Sao La tại Vườn Quốc Gia Pù Mát. Công trình kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết kinh tế học môi trường với các dẫn liệu sinh thái thực địa và dữ liệu điều tra xã hội học từ 150 hộ dân tại xã Môn Sơn. Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ tầm quan trọng của việc bảo tồn loài đặc hữu quý hiếm này, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học hỗ trợ công tác quản lý tài nguyên và phát triển sinh kế bền vững tại khu vực miền Tây Nghệ An.