Chương I. TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HÀNG HOÁ VÀ DỊCH VỤ PHI THỊ TRƯỜNG ÁP DỤNG CHO LOÀI SAO LA 1. Khái quát về tổng giá trị kinh tế và giá trị bảo tồn của loài Sao La Hiện nay, Kinh tế thị trường đã phải thừa nhận chất lượng môi trường là một loại hàng hoá, gọi là hàng hoá môi trường. Tức là nó có sự trao đổi mua bán trên thị trường, tuy nhiên nó có một tính chất đặc thù như: - Nó có thể là hàng hoá mang tính cá nhân ( Tài nguyên tự nhiên) - Nó có thể là hàng hoá công cộng ( không thể trao đổi mua bán như hàng hoá tự nhiên).
Ví dụ như: nguồn nước, không khí, cảnh quan môi trường, đa dạng sinh học,…Chính vì vậy, kinh tế học môi trường cho rằng cần phải có một cách lượng giá (đánh giá) loại hàng hoá này phù hợp với giá trị của nó.1 Tổng giá trị kinh tế Để đánh giá một hệ sinh thái hay một hàng hoá môi trường thì các nhà kinh tế học cho rằng, trước hết phải có quan điểm nhìn nhận có tính tổng hợp bởi lẽ thực chất của một hệ sinh thái hay một hàng hoá môi trường thì bản thân nó đã có tính tổng hợp. Cụ thể đó là tổng giá trị kinh tế ( TEV:Total Economic Valuation). TEV = UV + NUV UV = DUV + IDUV NUV = OV + BV + EXV Trong ba giá trị đó thì giá trị OV không rõ ràng giữa UV và NUV, có thể nó có cả hai tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể. Lương Thị Đức KTMT47 4 Hình 1.1 Tổng giá trị kinh tế Tổng giá trị kinh tế Giá trị Giá trị Giá trị Giá trị lưu Giá trị sử dụng sử dụng lựa truyền tồn tại gián tiếp trực tiếp chọn lợi ích Lợi ích Lợi ích lợi ích từ lợi ích từ có thể sử từ chức trực tiếp mong các giá trị dụng năng của và gián muốn bảo vẫn tồn tại trực tiếp môi tiếp của tồn cho thế trường thế hệ hệ mai sau tương lai gỗ, củi, Bảo vệ du lịch, đất, chắn Bảo tồn giải trí sóng, đa dạng sức chắn cát, sinh học, khoẻ… hấp thụ môi C… trường Tính khó lượng hoá dần Nguồn: Katherine Bolt, Giovanni Ruta, Maria Sarraf, lượng giá chi phí của suy thoái môi trường (ESTIMATING THE COST OF ENVIRNMENTAL DEGRATION, September 2005) Giá trị sử dụng trực tiếp ( DUV ) của một loại hàng hoá môi trường là loại hàng hoá mà đã có giá trao đổi trên thị trường.
Giá trị sử dụng gián tiếp ( IDUV ) là những hàng hoá môi trường mà giá trị của nó không thể tính được trực tiếp bằng tiền mà phải thông qua giá gián tiếp. Lương Thị Đức KTMT47 5 Giá trị tuỳ chọn (OV) phụ thuộc vào từng loại môi trường, tính chất môi trường khác nhau thì giá trị OV cũng khác nhau. Mỗi cá nhân có thể tự đánh giá cách lựa chọn để sử dụng môi trường hay tài nguyên môi trường trong tương lai. Giá trị tuỳ chọn là giá trị của môi trường như là lợi ích tiềm tàng trong tương lai khi nó trở thành giá trị thực sử dụng trong hiện tại.
Mỗi cá nhân có thể biểu lộ sự sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để chống lại khả năng sử dụng của một người nào đó trong tương lai. Giá trị tuỳ chọn còn có thể bao gồm giá trị sử dụng của những người khác ( nghĩa là lợi ích gián tiếp mà bạn thu được từ giá trị sử dụng của người khác. Bạn cảm thấy hài lòng khi thấy người khác cũng thu được lợi ích nên bạn sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường để đem lại lợi ích cho người khác). Giá trị tuỳ thuộc ( BV ) là giá trị gần giống với giá trị OV nhưng khác ở chỗ là nó phụ thuộc vào từng hệ sinh thái.
Chẳng hạn, đối với rừng ngập mặn ở Giao Thuỷ thì nó cơ bản phụ thuộc vào cửa sông Ba Lạt ( Cửa sông Hồng đổ ra biển). Do đó, mức độ tăng trưởng của hệ sinh thái này phụ thuộc vào lượng phù sa đưa ra biển được bồi lắng. Mặt khác, hệ sinh thái này phụ thuộc vào khí hậu mùa đông lạnh phía Bắc nên tốc độ tăng trưởng của cây không cao. Trong khi đó, ở Cần Giờ ( phía Nam ) không bị ảnh hưởng bởi mùa đông lạnh, nhận được nhiều năng lượng bức xạ mặt trời hơn nên tốc độ tăng trưởng sinh học của cây cao hơn.
Giá trị tồn tại ( EXV ) liên quan đến các thế hệ mà duy trì giá trị của hệ sinh thái đó có ý nghĩa đến thế hệ mai sau. Chẳng hạn, giá trị tồn tại của rừng ngập mặn là sự đánh giá tính hữu ích của giá trị khu rừng mai sau hoặc việc thu lại giá trị của thế hệ hiện nay là do công duy trì của thế hệ trước đây. Chính vì vậy loại giá trị này nhận thức thì không khó nhưng lượng giá bằng tiền thì rất khó khăn. Lương Thị Đức KTMT47 6 Theo Mitchell and Carson (1989), tổng giá trị kinh tế (TEV) là tổng của giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng.
Như vậy, tổng giá trị kinh tế cuối cùng sẽ được đo bằng công thức sau: TEV= ( DUV + IDUV ) + ( OV + BV + EXV ) 1. Giá sẵn lòng chi trả (WTP) Nhằm mục đích theo đuổi ý tưởng tổng hợp các ý thích cá nhân, trước hết ta nên đặt câu hỏi là làm thế nào đo lường những phần lợi thêm và thiệt mất về sự thoả mãn. Một cách để làm việc này có thể là dựa vào sự lựa chọn của dân chúng trong một cuộc trưng cầu dân ý, nhưng điều này cũng không cho chúng ta biết về cường độ ưa thích hoặc không thích về một việc nào đó. Mức đo lường ý thích của một cá nhân về một hàng hoá trên thị trường được bộc lộ bằng mức sẵn lòng chi trả (WTP) của họ đối với mặt hàng đó.
Bằng cách xem xét mức mà người ta sẵn lòng trả cho một mối lợi, hoặc sẵn sàng nhận để chịu một tổn hại, chúng ta tìm được cách đo lường cường độ ý thích của con người.1 nghiên cứu chi tiết hơn về khái niệm của mức giá sẵn lòng chi trả (WTP). Khái niệm WTP là điều chúng ta cần để giải quyết vấn đề tổng hợp giữa các cá nhân khi có một số người thích tình trạng A như đã nêu ở trên và một số người khác không thích. Vì vậy mức sẵn lòng chi trả của mỗi người sẽ khác nhau. Chẳng hạn một hoàn cảnh cụ thể như sau: Hình (a) Người thứ nhất: WTP để chuyển sang tình trạng A = 20 đồng Giá Đường cầu Người thứ hai: WTP để chuyển sang tình trạng A = 10 đồng Người B thứ ba: WTP để chuyển sang tình trạng A = 5 đồng C A Khung 1.1 - Mức giá sẵn lòng chi trả (WTP) Lương Thị Đức KTMT47 O D Số lượng 7 Hình (a) cho thấy đường cầu của một sản phẩm.
Đây có thể là một sản phẩm bán ở thị trường ( một mặt hàng có giá thị trường) hoặc một mặt hàng không có thị trường (một mặt hàng phi thị trường). Giả sử rằng giá đang ở mức OA. Đường cầu sẽ là OD. Chúng ta có thể xem đường cầu là “đường sẵn lòng chi trả”: nó cho thấy mức sẵn lòng chi trả cho một sản phẩm thêm vào và đó là đường mức sẵn lòng chi trả biên.
Số tiền mà các cá nhân chi trả thực sự ở ngoài thị trường ( hoặc số tiền mà họ sẽ trả nếu có thị trường) cho bởi tổng chi OACD. Nhưng có giá WTP cao hơn cho các đơn vị đầu tiên, như WTP là OB cho đơn vị đầu tiên, và giảm xuống DC ứng với đơn vị cuối cùng. Do đó, WTP cao hơn mức chi trả thật sự. Nếu chúng ta cộng phần dôi ra của WTP ở phía trên OA (giá thật sự trả) của mỗi đơn vị sản phẩm, chúng ta sẽ có hình tam giác ABC.
Phần này được gọi là phần thặng dư của người tiêu thụ: đó là lợi ích có được trên số tiền mà họ phải trả thật sự. WTP là tổng của OACD+ABC=OBCD được tạo bởi phần thặng dư và phần thật sự phải trả của người tiêu thụ. Vì sao phải đánh giá giá trị bảo tồn loài Sao La Việc đánh giá giá trị bảo tồn của loài Sao La có ý nghĩa hết sức quan trọng. Thứ nhất, qua việc điều tra đánh giá tổng hợp các giá trị của loài Sao La sẽ giúp người dân địa phương có nhận thức về tầm quan trọng của Sao La từ đó phần nào có thể thay đổi hành động của mình hay góp phần bảo vệ loài động vật quý hiếm này.
Thứ hai, việc xác định giá trị kinh tế của loài Sao La sẽ xác định được giá trị thực bằng tiền của loài động vật này, từ đó có thể góp phần xác định các mức phạt hay đền bù khi cá nhân hay tổ chức có vi phạm đến sự sống của loài Sao La. Lương Thị Đức KTMT47 8 Thứ ba, xác định giá trị kinh tế của việc bảo tồn Sao La và biết được mức độ quan trọng của nó sẽ giúp cho các nhà chính sách có các biện pháp và chính sách đầu tư thích hợp để bảo tồn loại động vật này, cũng như đầu tư cho khu vực có loài động vật này sinh sống. Ý nghĩa kinh tế và sinh thái của loài Sao La Sao La là loài động vật có kích thước khá lớn nặng gần 100kg và cao khoảng 90cm nhưng việc nhìn thấy nó trong tự nhiên là rất hiếm. Về mặt kinh tế Sao La không có giá trị cao về mặt dược phẩm hay thực phẩm so với các loại động vật khác như tê giác hay bò tót…Nhưng nếu chúng bị các thợ săn bắt gặp thì vẫn bị bắn hạ và đem về dùng như các thực phẩm của các loại động vật bình thường khác.
Ngoài ra, các vật phẩm khác từ Sao La như sừng chẳng hạn thì vẫn thu hút được sự tò mò của nhiều người thành thị Việt Nam và chúng được bán với giá khoảng 25-65$ cho mỗi vật phẩm. Về mặt sinh thái, Sao La là một mắt xích quan trọng trong toàn bộ hệ sinh thái. Nếu một cá thể Sao La mất đi sẽ ảnh hưởng tới toàn bộ quần thể Sao La, và vì số lượng trong quần thể Sao La còn lại rất ít và lại không thể quan sát thấy nên tính đặc biệt quan trọng và quý hiếm của nó lại càng cao. Sao La có ý nghĩa trong việc nghiên cứu, bảo tồn và phát hiện các nguồn gen quý hiếm đang có nguy cơ bị mất đi vĩnh viễn trên toàn thế giới.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (Contigent Valuation Method-CVM) 1.