ĐẶT VẤN ĐỀ Khu hệ bò sát và ếch nhái của nƣớc ta rất đa dạng với khoảng 655 loài, trong đó 417 loài bò sát và 238 loài ếch nhái [31],[58]. Chúng phân bố rộng ở cả 3 vùng đồng bằng, trung du và miền núi. Hàng năm tại các Vƣờn Quốc gia (VQG), Khu bảo tồn (KBT), nhiều loài bò sát, ếch nhái mới đƣợc phát hiện, bổ sung cho danh lục của quốc gia, khu vực và thế giới. Từ năm 2010 đến nay có hơn 100 loài mới đã đƣợc phát hiện cho khoa học và 26 loài ghi nhận mới cho khu hệ ếch nhái và bò sát Việt Nam [31],[58].
Tuy nhiên những nghiên cứu này ở vùng núi đá vôi chƣa nhiều, một số điểm ở vùng núi đá vôi đã đƣợc nghiên cứu nhƣ: VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Ziegler & Vu (2009) [64] đã báo cáo một tổng cộng 138 loài với 93 loài bò sát và 45 loài ếch nhái. Gần đây, Luu et al. (2013) [37] đã đƣa ra một danh lục cập nhật với tổng cộng 151 loài bò sát, ếch nhái (101 loài bò sát, 50 loài ếch nhái), trong đó ghi nhận thêm 13 loài mới cho VQG Phong Nha – Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình. VQG Cúc Phƣơng đƣợc thành lập ngày 07 tháng 07 năm 1962 theo Quyết định số 72-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ, với tổng diện tích 22.000 ha trải rộng trên địa phận của 3 tỉnh Ninh Bình (51,1%), Hoà Bình (26,4%) và Thanh Hoá (22,5%).
Cho đến nay các công trình nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở VQG Cúc Phƣơng vẫn còn hạn chế. Nguyễn Văn Sáng và cs (2003) [14] đã ghi nhận 73 loài bò sát thuộc 47 giống, 15 họ và 2 bộ và 42 loài lƣỡng cƣ thuộc 17 giống, 6 họ, 1 bộ cho VQG Cúc Phƣơng. Ngo et al. (2011) [41] công bố một loài mới cho khoa học (Cyrtodactylus cucphuongensis) và kết quả nghiên cứu phân loại các loài đã chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái.
Nghiên cứu về thành phần loài bò sát, ếch nhái có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đánh giá hiện trạng về đa dạng thành phần loài, bổ sung vào danh lục loài còn thiếu, cung cấp các dẫn liệu về phân bố theo sinh cảnh và theo vùng nhằm tạo cơ sở khoa học cho đề xuất một số biện pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng nói chung và bò sát, ếch nhái nói riêng làm cơ sở cho công tác quy hoạch bảo tồn của VQG Cúc Phƣơng. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Đa dạng các loài bò sát LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 (Reptilia) và ếch nhái (Amphibia) tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”. Đề tài cũng sẽ s dụng chính phƣơng pháp phân tích chi tiết các đặc điểm hình thái và so sánh với các dữ liệu của mẫu vật tại các bảo tàng và tài liệu đã công bố để phân loại các loài, đặc biệt đối với những loài có hình thái tƣơng đồng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du và vùng núi nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung, bò sát và ếch nhái nói riêng. Nỗ lực nghiên cứu về bò sát và ếch nhái ở Việt Nam đƣợc thể hiện qua các giai đoạn cụ thể nhƣ sau: Hình 1. Lƣợc sử kết quả nghiên cứu khu hệ bò sát và ếch nhái ở Việt Nam Công trình đƣợc công bố đầu tiên về bò sát và ếch nhái ở Việt Nam phải kế đến cuốn ''Nam dược thần hiệu'' của Tuệ Tĩnh đã liệt kê các vị thuốc đƣợc làm từ các loài bò sát và ếch nhái (đƣợc dịch sang tiếng Việt và tái bản vào năm 1972). Giai đoạn trƣớc năm 1945, đã có một số nhà khoa học nƣớc ngoài nghiên cứu về bò sát và ếch nhái ở khu vực Đông Dƣơng, trong đó có Việt Nam.
Hàng loạt các sách chuyên khảo đƣợc ra đời trong thời gian này có thể kể đến nhƣ Bourret (1936, 1941, 1942) và Smith (1921, 1935, 1943) [19]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Giai đoạn 1954-1975, nghiên cứu về bò sát và lƣỡng cƣ ở miền Bắc do các nhà khoa học trong nƣớc thực hiện nhƣ Đào Văn Tiến, Trần Kiên, Lê Vũ Khôi, các công bố về thành phần loài và sinh thái của các bò sát và lƣỡng cƣ (Dao 1957, 1962) [19]. Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main (1970) [19]. Giai đoạn 1975-1996, với sự kết hợp của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc các nghiên cứu tập trung vào khám phá đa dạng thành phần loài đã tiến hành ở nhiều vùng khác nhau trong cả nƣớc.
Nổi bật trong giai đoàn này có thể kể đến các khóa định loài về bò sát và ếch nhái của Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1879, 1981, 1982) [4],[19]. Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) [13], đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và ếch nhái đến năm 1996. Giai đoạn từ 1997 đến nay, bên cạnh phƣơng pháp định loài hình thái truyền thống, nhờ sự hỗ trợ của phƣơng pháp sinh học phân t trong phân tích các mối quan hệ di truyền đã góp phần khám phá thêm nhiều loài bò sát và ếch nhái mới cho Việt Nam. Nguyễn Văn Sáng và cs (2005) [15] đã ghi nhân 458 loài và số loài đã tăng lên 545 loài vào năm 2009 (Nguyen et al.
Theo thống kê của hệ thống cơ sở dữ liệu bò sát và ếch nhái thế giới, đến năm 2017 ở Việt Nam có 655 loài, trong đó có 238 loài ếch nhái, 186 loài thằn lằn, 195 loài rắn, 34 loài rùa và 2 loài cá sấu [31], [58]. Những kết quả nghiên cứu về khu hệ bò sát và ếch nhái tại khu vực hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam gần đây có thể kể đến: Luu et al. (2013) [37], đã báo cáo tổng cộng 151 loài (101 loài bò sát và 50 loài lƣỡng cƣ) trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình. Ziegler et al.
(2014) [66] đã cung cấp một danh lục của 102 loài (52 loài bò sát và 50 loài ếch nhái) trong đó ghi nhận lần đầu tiên cho tỉnh Hà Giang 12 loài bò sát và 8 loài ếch nhái. Nguyen et al. (2016) [49] đã ghi nhận 31 loài lƣỡng cƣ và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm 2015 và 2016 trong đó có 8 loài mới ghi nhận cho huyện Hƣớng Hóa và 4 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Trị. Pham et al.
(2017) [51] đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái cho hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đó ghi nhận mới 3 loài (Odorrana bacboensis, O. graminea, Rhacophorus maximus) cho tỉnh Cao Bằng. Hoàng Thị Tƣơi và cs (2017) [6] đã ghi nhận lần đầu tiên 27 loài bò sát và 18 loài ếch nhái tại hệ sinh thái núi đá vôi của Quần thể danh thắng Tràng An, tỉnh Ninh Bình. Số loài mới cho khoa học đƣợc công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ.
Nếu trong thời kỳ 1954–1975 chỉ phát hiện đƣợc 1 loài bò sát mới cho khoa học, thì từ năm 1976–1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 16 loài (4 loài ếch nhái, 12 loài bò sát), trong giai đoạn từ 1996-2005 số lƣợng loài mới phát hiện là 57 loài (28 loài ếch nhái, 29 loài bò sát), trong giai đoạn gần đây từ 2006-2017 số lƣợng loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 158 loài (66 loài ếch nhái và 92 loài bò sát). Một số loài mới đƣợc công bố gần đây có thể kể đến: 14 loài ếch nhái mới đƣợc công bố với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam gồm: Leptolalax applebyi Rowley & Cao, 2009; Leptolalax croceus Rowley, Hoang, Le, Dau & Cao, 2010; Odorrana geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009; Theloderma lateriticum Bain, Nguyen & Doan, 2009; Rhacophorus vampyrus Rowley, Le, Tran, Stuart & Hoang, 2010; Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao & Nguyen 2011; Theloderma nebulosum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011; Theloderma palliatum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011; Gracixalus waza Nguyen, Le, Pham, Nguyen, Bonkowski & Ziegler, 2012; Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui & Nguyen 2013; và 2 loài mới ghi nhận cho Việt Nam là Leptobrachium promustache và Tylototriton notialis (Bain et al. 2009, Nishikawa et al. 2013) và 47 loài bò sát nhƣ: Cnemaspis psychedelica Grismer, Ngo & Grismer, 2010; Calamaria concolor Orlov, Truong, Tao, Ananjeva & Cuc, 2010; Tropidophorus boehmei Nguyen, Nguyen, Schmitz, & Ziegler, 2010; Scincella darevskii Nguyen, Ananjeva,, Orlov, Rybaltovsky & Bohme, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Bohme & Ziegler, 2010; Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Böhme & Ziegler 2010; Acanthosaura brachypoda Ananjeva, Orlov, Nguyen & Ryabov, 2011; Cyrtodactylus huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011; Kaloula indochinensis, Leptolalax botsfordi, Oreolalax sterlingae, Rhacophorus LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 helenae, Tylototriton ziegleri, Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013; Cyrtodactylus kingsadai Ziegler, Phung, Le & Nguyen, 2013; Sphenomorphus sheai Nguyen, Nguyen, Van Devender, Bonkowski & Ziegler, 2013; Cyrtodactylus phuocbinhensis Nguyen, Le, Tran, Orlov, Lathrop, Macculloch, Le, Jin, Nguyen, Nguyen, Hoang, Che, Murphy & Zhang, 2013; Calotes bachae Hartmann, Geissler, Poyarkov, Ihlow, Galoyan, Rödder & Böhme, 2013; Cyrtodactylus dati Ngo, 2013; Gekko adleri Nguyen, Wang, Yang, Lehmann, Le, Ziegler & Bonkowski, 2013; Hemiphyllodactylus zugi Nguyen, Lehmann, Le, Duong, Bonkowski & Ziegler, 2013; Oligodon cattienensis Vassilieva, Geissler, Galoyan, Poyarkov Jr, Van Devender & Böhme, 2013; Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen, 2013.[31],[58] Riêng năm 2017 có 12 loài bò sát và ếch nhái mới cho khoa học đƣợc phát hiện trong đó có 4 loài bò sát gồm: Cyrtodactylus gialaiensis Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler, 2017; Cyrtodactylus Sonlaensis Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017; Japalura Ngoclinensis Ananjeva, Orlov & Nguyen, 2017; Oligodon Culaochamensis Nguyen, Nguyen, Nguyen, Phan, Jiang & Murphy, 2017 và 8 loài ếch nhái gồm: Limnonectes quangninhensis Pham, Le, Nguyen, Ziegler, Wu, and Nguyen, 2017; Leptobrachella petrops Rowley, Dau, Hoang, Le, Cutajar, and Nguyen, 2017; Leptobrachella puhoatensis Rowley, Dau, and Cao, 2017; Megophrus koui Mahony, Foley, Biju, and Teeling, 2017; Megophrys elfina Poyarkov, Duong, Orlov, Gogoleva, Vassilieva, Nguyen, Nguyen, Nguyen, Che, and Mahony, 2017; Megophrys rubrimera Tapley, Cutajar, Mahony, Chung, Dau, Nguyen, Luong, and Rowley, 2017; Gracixalus sapaensis Matsui, Ohler, Eto, and Nguyen, 2017; Rhacophorus hoabinhensis Nguyen, Pham, Nguyen, Ninh, and Ziegler, 2017.
[31],[57] Số lƣợng loài tăng lên nhanh chóng và những khám phá mới liên tục đƣợc công bố chứng tỏ khu hệ ếch nhái, bò sát của Việt Nam rất đa dạng và cần tiếp tục đƣợc nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.