Tổng quan nghiên cứu

Theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, số lượng loài động thực vật hoang dã bị đe dọa tuyệt chủng trong tự nhiên đã lên tới 882 loài, tăng 161 loài so với năm 1992. Điển hình tại quần đảo Cát Bà, quần thể loài Voọc Cát Bà đặc hữu nguy cấp đã sụt giảm nghiêm trọng từ khoảng 2.400 đến 2.700 cá thể trong thập niên 1960 xuống vỏn vẹn 53 cá thể vào năm 2001, trong khi quần thể Sơn dương giảm từ 500 cá thể vào thập niên 1990 xuống còn khoảng 26 đến 28 cá thể vào năm 2011. Thực trạng này bắt nguồn từ phương thức quản lý bảo tồn truyền thống mang tính tập trung, áp đặt từ trên xuống và thiếu sự tham gia của người dân bản địa. Mâu thuẫn giữa mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt và nhu cầu sinh kế của cộng đồng sống trong và ven vùng lõi với mức thu nhập bình quân chỉ từ 0,56 đến 0,70 USD mỗi ngày đã tạo ra sức ép nặng nề lên tài nguyên thiên nhiên thông qua các hoạt động săn bắt và khai thác lâm sản trái phép.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện nhận thức, thái độ và mức độ tác động của cộng đồng địa phương đối với công tác bảo tồn động vật hoang dã, đồng thời đo lường hiệu quả tham gia của người dân trong các mô hình đồng quản lý tại Vườn quốc gia Cát Bà. Phạm vi không gian của đề tài bao phủ toàn bộ 15.200 ha diện tích tự nhiên của vườn quốc gia, khảo sát chuyên sâu tại 4 thôn trọng điểm thuộc 3 xã Gia Luận, Trân Châu và Việt Hải trong khung thời gian từ tháng 5 năm 2013 đến tháng 9 năm 2013. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ định lượng giúp nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên rừng, định hướng tối ưu hóa chính sách giao khoán hơn 5.657,9 ha rừng cho 138 hộ gia đình và thúc đẩy tỷ lệ đồng thuận tham gia bảo tồn của cộng đồng lên trên 60%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết Bảo tồn dựa vào cộng đồng (Community-Based Conservation - CBC) được phát triển bởi các chuyên gia quốc tế như Dudley (2008) và Fernandez (2009), kết hợp với Khung phân tích quản trị tài nguyên và đồng quản lý rừng đặc dụng của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2008). Mô hình nghiên cứu vận dụng các quan điểm tiếp cận hiện đại, khẳng định bảo tồn đa dạng sinh học chỉ đạt hiệu quả tối ưu và bền vững khi quyền lợi, an ninh sinh kế và năng lực tự chủ của cộng đồng địa phương được đảm bảo song hành cùng trách nhiệm pháp lý.

Bốn khái niệm cốt lõi được sử dụng xuyên suốt luận văn bao gồm:

  • Bảo tồn nguyên vị (In-situ conservation): Phương thức duy trì, bảo vệ và phục hồi các quần thể sinh vật trong sinh cảnh tự nhiên nguyên vẹn của chúng.
  • Bảo tồn chuyển vị (Ex-situ conservation): Hoạt động bảo tồn các nguồn gen và cá thể loài mục tiêu bên ngoài môi trường sống tự nhiên thông qua ngân hàng gen, vườn thú hoặc trung tâm cứu hộ.
  • Quản trị tài nguyên rừng có sự tham gia (Participatory forest governance): Cơ chế chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và lợi ích kinh tế giữa cơ quan kiểm lâm nhà nước với các nhóm cộng đồng dân cư địa phương.
  • Sinh kế bền vững vùng đệm: Các giải pháp sản xuất nông lâm nghiệp, du lịch sinh thái và dịch vụ thân thiện với môi trường nhằm thay thế hoàn toàn tập quán khai thác tận diệt lâm sản rừng nguyên sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập kết hợp giữa tài liệu thứ cấp từ các báo cáo quản trị của Ban quản lý Vườn quốc gia Cát Bà giai đoạn 1995 đến 2013 và dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Đề tài áp dụng phương pháp Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) với quy mô mẫu khảo sát gồm 120 hộ gia đình, phân bổ đều 30 hộ trên mỗi đơn vị tại 4 thôn: Thôn 1 xã Gia Luận, Thôn Hải Sơn xã Trân Châu, Thôn 1 và Thôn 2 xã Việt Hải.

Quy trình chọn mẫu sử dụng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống kết hợp phân tầng từ danh sách nhân khẩu thực tế của các thôn giáp ranh vùng lõi. Bộ công cụ thu thập số liệu bao gồm phiếu điều tra chuẩn hóa 30 câu hỏi với thang điểm định lượng tối đa 27 điểm, 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung với sự tham gia của 15 đến 20 đại biểu mỗi cuộc, kết hợp phỏng vấn sâu bán cấu trúc các cán bộ kiểm lâm và trưởng thôn.

Dữ liệu được làm sạch và xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0 và Excel. Đề tài lựa chọn kiểm định phân tích phương sai một yếu tố (One-way ANOVA) để so sánh nhận thức giữa các khu vực địa lý và kiểm định Independent Samples T-test để đối chiếu sự khác biệt theo giới tính. Lý do lựa chọn các phương pháp này là vì biến số nhận thức được lượng hóa theo thang điểm liên tục, dữ liệu thỏa mãn điều kiện phân phối chuẩn và đồng nhất phương sai, cho phép kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu với độ tin cậy thống kê đạt 95% (mức ý nghĩa alpha bằng 0,05). Toàn bộ quá trình thu thập và phân tích dữ liệu thực địa hoàn tất trong 5 tháng từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực nghiệm trên 120 phiếu khảo sát ghi nhận bức tranh tổng thể về nhận thức bảo tồn của người dân địa phương tại Vườn quốc gia Cát Bà với 4 phát hiện trọng tâm:

  • Tỷ lệ nhận thức chung đạt mức tích cực: Có 54 người (chiếm 45,00%) đạt mức nhận thức tốt với tổng điểm trên 20/27 điểm; 56 người (chiếm 46,67%) đạt mức nhận thức trung bình từ 14 đến 20 điểm; và chỉ có 10 người (chiếm 8,33%) bị xếp loại nhận thức kém với số điểm dưới 13. Thôn 1 xã Việt Hải ghi nhận điểm nhận thức trung bình cao nhất đạt 598 điểm với 50,00% hộ dân đạt mức nhận thức tốt.
  • Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức giữa các thôn: Kiểm định One-way ANOVA cho kết quả P-value lớn hơn 0,05, chứng minh người dân tại 4 thôn có mức độ hiểu biết tương đồng nhau về các vấn đề môi trường và quy định bảo tồn động vật hoang dã.
  • Tồn tại khoảng cách nhận thức rõ rệt theo giới tính: Kiểm định Independent Samples T-test ghi nhận giá trị P bằng 0,027 (nhỏ hơn 0,05), bác bỏ giả thuyết đồng nhất. Nhóm nam giới (83 người) đạt điểm nhận thức trung bình 20,24 điểm với 49,40% xếp loại tốt, cao hơn đáng kể so với nhóm nữ giới (37 người) chỉ đạt điểm trung bình 18,54 điểm, 35,14% xếp loại tốt và có tới 16,21% xếp loại kém.
  • Hiệu quả của các nhóm tuần tra cộng đồng tự quản: Hoạt động của nhóm Người gác Voọc thành lập từ năm 2001 và Câu lạc bộ Bảo vệ rừng thành lập từ năm 2006 (gồm Ban chỉ đạo 10 người và Tổ xung kích từ 8 đến 12 người mỗi xã) đã kiểm soát hiệu quả tình trạng săn bẫy thú rừng, hỗ trợ tuần tra bảo vệ vững chắc hơn 5.657,9 ha diện tích rừng giao khoán.

Thảo luận kết quả

Sự tương đồng về nhận thức giữa các thôn sinh sống là kết quả trực tiếp từ khoảng 45 dự án bảo tồn và phát triển cộng đồng được triển khai liên tục trên đảo Cát Bà từ năm 1995 đến năm 2013, giúp thông tin bảo vệ rừng được phổ biến đồng đều qua hệ thống truyền thông cơ sở. Tuy nhiên, sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa hai giới phản ánh sự phân công lao động truyền thống: nam giới thường xuyên tham gia các tổ tuần tra rừng, tiếp xúc với cán bộ kiểm lâm và tham dự các cuộc họp thôn, trong khi nữ giới chủ yếu đảm nhận công việc nội trợ gia đình và ít có cơ hội tiếp cận các lớp tập huấn kỹ thuật.

Phát hiện này hoàn toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhài (2010) tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Khau Ca (Hà Giang) cũng như nhận định của Richard và Barbara (2001), khẳng định các rào cản xã hội và vai trò giới ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp thu giáo dục bảo tồn. Về mặt trình bày trực quan, các dữ liệu này có thể được mô tả hiệu quả thông qua biểu đồ cột phân nhóm (grouped bar chart) thể hiện tỷ lệ % nhận thức tốt, trung bình, kém theo giới tính và bảng ma trận đối chiếu giá trị P-value từ các kiểm định thống kê ANOVA và T-test, giúp người đọc dễ dàng nhận diện các phân khúc dân cư cần ưu tiên can thiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện mô hình bảo tồn động vật hoang dã dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Cát Bà, đề tài kiến nghị 4 nhóm giải pháp cụ thể:

  • Lồng ghép bình đẳng giới vào các chương trình giáo dục môi trường: Hội Liên hiệp Phụ nữ các xã phối hợp cùng Phòng Khoa học và Hợp tác quốc tế VQG Cát Bà tổ chức các lớp tập huấn chuyên đề vào buổi tối hoặc ngày cuối tuần, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ phụ nữ tham gia các khóa nâng cao nhận thức bảo tồn lên tối thiểu 40% trong giai đoạn 2014 - 2015.
  • Chuyển đổi mô hình sinh kế sang du lịch sinh thái cộng đồng: Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải và Ban quản lý Vườn quốc gia triển khai hỗ trợ vay vốn ưu đãi, đào tạo nghiệp vụ lưu trú homestay và hướng dẫn viên bản địa tại xã Việt Hải và Trân Châu, hướng tới mục tiêu chuyển đổi bền vững 35% số hộ dân đang khai thác lâm sản phụ sang làm dịch vụ du lịch từ năm 2014 đến năm 2016.
  • Nâng cao năng lực và chính sách đãi ngộ cho lực lượng tuần tra cơ sở: Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng bố trí ngân sách bổ sung 20% phụ cấp trách nhiệm hàng tháng cho các thành viên Tổ xung kích bảo vệ rừng (từ 8 đến 12 người mỗi xã) và duy trì định kỳ 04 đợt tập huấn kỹ năng định vị GPS, nhận dạng bẫy thú hàng năm kể từ quý I năm 2014.
  • Hoàn thiện thể chế đồng quản lý và giao khoán rừng: Ban quản lý VQG Cát Bà cùng Ủy ban nhân dân các xã rà soát, ký kết lại hợp đồng giao khoán bảo vệ 5.657,9 ha rừng đặc dụng, áp dụng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng minh bạch nhằm nâng mức thu nhập từ rừng khoán tăng 15% vào năm 2015 cho 138 hộ dân nhận khoán.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên: Áp dụng bộ công cụ 30 câu hỏi và khung thang điểm 27 điểm của luận văn để tự đánh giá nhận thức cộng đồng vùng đệm, đồng thời học hỏi kinh nghiệm vận hành mô hình Câu lạc bộ Bảo vệ rừng và nhóm Người gác Voọc.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Các nhà hoạch định chính sách lâm nghiệp cấp tỉnh và huyện sử dụng số liệu thực trạng thu nhập dưới 520.000 đồng mỗi tháng để xây dựng các chính sách an sinh xã hội, giao khoán rừng và hỗ trợ sinh kế gắn liền với bảo vệ tài nguyên tự nhiên.
  • Các tổ chức phi chính phủ và cơ quan tài trợ quốc tế: Tham khảo số liệu đánh giá tác động của 45 dự án tiền nhiệm tại Cát Bà để tối ưu hóa thiết kế các dự án viện trợ bảo tồn đa dạng sinh học trong tương lai, đặc biệt là tích hợp chỉ số bình đẳng giới vào dự án.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Kế thừa quy trình nghiên cứu khoa học kết hợp giữa phương pháp PRA và xử lý thống kê định lượng SPSS để thực hiện các công trình nghiên cứu xã hội học lâm nghiệp và sinh thái học bảo tồn.

Câu hỏi thường gặp

  • Mô hình Câu lạc bộ Bảo vệ rừng tại Vườn quốc gia Cát Bà được tổ chức như thế nào? Trả lời: Được thành lập từ năm 2006, Câu lạc bộ Bảo vệ rừng cấp xã gồm 2 bộ phận chuyên trách: Ban chỉ đạo gồm 10 người là lãnh đạo các đoàn thể chính trị - xã hội trong xã, và Tổ xung kích gồm từ 8 đến 12 người nòng cốt từ công an, dân quân tự vệ và đại diện các hộ nhận khoán rừng trực tiếp tuần tra thực địa.

  • Vì sao có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nhận thức bảo tồn giữa nam giới và nữ giới? Trả lời: Kết quả kiểm định T-test cho thấy P bằng 0,027 nhỏ hơn 0,05, với điểm trung bình của nam là 20,24 điểm so với nữ là 18,54 điểm. Nguyên nhân do nam giới chiếm 69,17% số người tham gia các tổ tuần tra và thường xuyên dự các buổi họp thôn, trong khi nữ giới bị hạn chế thời gian do gánh nặng nội trợ.

  • Những loài động vật đặc hữu nào đang được ưu tiên bảo tồn tuyệt đối tại đảo Cát Bà? Trả lời: Loài đặc hữu nguy cấp nhất là Voọc Cát Bà (chỉ còn 53 cá thể năm 2001), cùng các loài mới phát hiện mang giá trị sinh học cao như Dơi mũi xám lớn (2006), Thạch sùng mí Cát Bà (2007), Thằn lằn Phê-nô Bắc bộ (2011) và Dơi nếp mũi Grip-phin (2012).

  • Phương pháp chọn mẫu 120 hộ gia đình có bảo đảm tính đại diện khoa học không? Trả lời: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống phân tầng tại 4 thôn trọng điểm tiếp giáp vùng lõi với quy mô 30 hộ mỗi thôn kết hợp 4 cuộc thảo luận nhóm từ 15 đến 20 người giúp dữ liệu phản ánh chính xác cấu trúc xã hội, đạt độ tin cậy kiểm định thống kê trên 95%.

  • Giải pháp nào giúp giải quyết triệt để mâu thuẫn giữa sinh kế người dân và bảo tồn nghiêm ngặt? Trả lời: Phát triển mô hình du lịch sinh thái homestay gắn với bảo tồn tại xã Việt Hải, kết hợp thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 138 hộ nhận khoán hơn 5.657,9 ha rừng giúp nâng thu nhập người dân vượt chuẩn nghèo 520.000 đồng/người/tháng, loại bỏ động cơ khai thác rừng trái phép.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định 91,67% người dân địa phương tại 4 thôn vùng đệm đạt mức nhận thức từ trung bình đến tốt về các giá trị đa dạng sinh học và bảo tồn động vật hoang dã.
  • Chứng minh bằng kiểm định thống kê sự khác biệt nhận thức có ý nghĩa theo giới tính (P = 0,027), chỉ ra yêu cầu cấp bách phải đưa phụ nữ vào trung tâm của các hoạt động truyền thông môi trường.
  • Đánh giá thực chứng vai trò tiên phong của Câu lạc bộ Bảo vệ rừng và nhóm Người gác Voọc trong việc duy trì an ninh sinh thái trên 15.200 ha diện tích VQG Cát Bà.
  • Đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ kết hợp giao khoán 5.657,9 ha rừng với phát triển du lịch cộng đồng nhằm giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa sinh kế và bảo tồn.
  • Xác định lộ trình hành động ưu tiên giai đoạn 2014 - 2020 cho các nhà quản lý lâm nghiệp trong việc nhân rộng mô hình đồng quản lý rừng đặc dụng tại Việt Nam.

Các cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý các khu bảo tồn và tổ chức quốc tế cần khẩn trương phối hợp bố trí nguồn vốn kỹ thuật từ đầu năm 2014 để triển khai các mô hình sinh kế thay thế, đảm bảo mục tiêu bảo tồn bền vững các loài động vật hoang dã nguy cấp.