Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái phong phú với gần 12.000 loài thực vật và 7.000 loài động vật đã được ghi nhận. Tuy nhiên, công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại các khu rừng đặc dụng đang đứng trước áp lực sinh kế gay gắt từ các cộng đồng dân cư địa phương sinh sống ở vùng đệm và vùng lõi. Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ thuộc tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích tự nhiên 26.562 ha, trong đó nổi bật là 13.109,7 ha rừng tự nhiên nguyên sinh trên núi đá vôi chiếm 80% diện tích rừng tự nhiên toàn khu, đóng vai trò là sinh cảnh sống đặc hữu của nhiều loài động thực vật nguy cấp như Voọc mũi hếch và Hươu sạ. Mặc dù có giá trị sinh thái đặc biệt cao với trữ lượng gỗ đạt 887.000 m3, khu bảo tồn lại chịu sức ép từ 10.646 nhân khẩu phân bố tại 61 thôn bản thuộc 7 xã, với tỷ lệ hộ đói nghèo lên tới 28%. Do quỹ đất sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm khiêm tốn 2,02% tương đương 535,6 ha, đời sống của người dân vẫn phụ thuộc chặt chẽ vào các nguồn lâm sản tự nhiên.

Nghiên cứu được triển khai nhằm lượng hóa các hình thức và mức độ tác động bất lợi của cộng đồng các dân tộc đến tài nguyên rừng, phân tích các nguyên nhân kinh tế và xã hội chi phối, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu xung đột giữa bảo tồn và sinh kế. Về phạm vi không gian và thời gian, đề tài tập trung điều tra thực địa tại xã Ân Tình với hai thôn đại diện là Nà Dường và Thẳm Mu thuộc huyện Na Rì trong giai đoạn năm 2008 đến năm 2009. Kết quả nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để kiểm soát hơn 100 vụ vi phạm lâm luật xảy ra trong giai đoạn từ tháng 10 năm 2005 đến tháng 3 năm 2008, đồng thời bảo vệ diện tích rừng đặc dụng và cải thiện thu nhập cho 2.096 hộ gia đình trong khu vực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng mô hình Tháp sinh thái - nhân văn do tác giả Park khởi xướng năm 1936 và được Teherani Kroenner phát triển năm 1992. Mô hình này sắp xếp các yếu tố chi phối hành vi cộng đồng theo bốn bậc thứ bậc: bậc sinh thái, bậc kinh tế, bậc thể chế chính sách và bậc đạo đức. Dựa trên khung phân tích này, mối quan hệ giữa các tác động bất lợi của con người lên rừng và sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương là quan hệ tỷ lệ nghịch. Khi điều kiện kinh tế và nhận thức xã hội của người dân được cải thiện vững chắc, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng tự nhiên sẽ giảm thiểu tương ứng.

Bên cạnh đó, đề tài tích hợp quan điểm bảo tồn và phát triển của Gilmour và Nguyễn Văn Sản năm 1999 với ba trụ cột tiếp cận căn bản: xây dựng các nguồn sinh kế thay thế để giảm sức ép tài nguyên, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu trước khi yêu cầu tham gia bảo tồn, và áp dụng phương thức quy hoạch có sự tham gia của người dân. Các khái niệm trọng tâm bao gồm tài nguyên rừng đặc dụng theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, sinh kế bền vững của đồng bào dân tộc thiểu số, lâm sản ngoài gỗ theo định nghĩa chuẩn của FAO năm 1995, và cơ chế đồng quản lý rừng theo tinh thần Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo quy hoạch của Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, thống kê kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân các xã và các chương trình mục tiêu quốc gia như Dự án 135 và Chương trình 661. Cỡ mẫu điều tra sơ cấp gồm 90 hộ gia đình được lựa chọn thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích tại hai thôn Nà Dường (vùng thấp, giao thông thuận lợi) và Thẳm Mu (vùng núi cao hiểm trở). Mẫu khảo sát đại diện cho ba dân tộc cư trú chủ yếu gồm dân tộc Tày chiếm 64%, dân tộc Dao chiếm 27%, dân tộc Kinh chiếm 6% và được chia đều theo ba mức sống: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo (mỗi nhóm 30 hộ).

Công cụ thu thập dữ liệu hiện trường bao gồm bảng hỏi phỏng vấn bán định hướng, 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung PRA với quy mô 5 đến 7 đại diện mỗi nhóm, cùng các cuộc phỏng vấn sâu cán bộ Hạt Kiểm lâm và chính quyền cấp xã. Phương pháp phân tích số liệu sử dụng phần mềm SPSS 13.0 để xử lý thống kê mô tả, phân tích định tính thể chế và ứng dụng mô hình hàm sản xuất kinh tế lượng Cobb-Douglas dạng logarit tự nhiên. Lý do lựa chọn mô hình Cobb-Douglas là nhằm lượng hóa chính xác hệ số co giãn của thu nhập hộ gia đình theo từng yếu tố nguồn lực độc lập gồm số lượng lao động, diện tích đất canh tác và mức độ khai thác tài nguyên rừng. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu được hoàn thiện trong mốc thời gian từ năm 2008 đến năm 2009.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Hoạt động khai thác gỗ và củi diễn ra phổ biến ở mức độ cao trong toàn bộ các nhóm hộ. Có tới 95,56% số hộ được khảo sát thừa nhận tham gia khai thác gỗ rừng tự nhiên (trong đó người Kinh chiếm tỷ lệ 100%, người Tày và Dao đều chiếm 93,33%). Khối lượng khai thác gỗ bình quân đạt 2,16 m3/hộ/năm với tần suất 2,2 lần/năm, mang lại nguồn thu nhập trung bình 6,53 triệu đồng/hộ/năm, chủ yếu là các loài gỗ có giá trị cao như gỗ Nghiến. Khai thác củi ghi nhận tỷ lệ tham gia 100% ở cả ba dân tộc với sản lượng tiêu thụ trung bình 4.655,91 kg/hộ/năm, trong đó người Dao có mức tiêu thụ lớn nhất với 5.231,67 kg/hộ/năm do tập quán đốt lửa sưởi ấm liên tục trong mùa đông kéo dài.

Khai thác lâm sản ngoài gỗ và canh tác nương rẫy đóng vai trò cốt lõi trong việc bảo đảm lương thực và bữa ăn hàng ngày. Có 87,78% hộ dân thường xuyên thu hái lâm sản ngoài gỗ với tần suất 4,79 lần/tháng, sản lượng thu hái măng và rau rừng bình quân đạt 6,53 kg/hộ/tháng (người Tày thu hái cao nhất với 12,40 kg/hộ/tháng). Hoạt động săn bắt động vật rừng hoang dã ghi nhận sản lượng trung bình 2,25 kg/hộ/tháng tại các cộng đồng người Tày và Dao. Diện tích đất nương rẫy canh tác trái phép là 358,02 ha với 73,33% số hộ tham gia; người Dao canh tác diện tích nương rẫy lớn nhất đạt 0,71 ha/hộ và thu về 2,48 triệu đồng/năm. Ngoài ra, 90% số hộ duy trì việc chăn thả gia súc tự do trong rừng với quy mô bình quân 2,5 con/hộ và tần suất 5,5 lần/tuần, gây tổn hại trực tiếp đến thảm thực vật tái sinh.

Cơ cấu thu nhập cho thấy sự phụ thuộc kinh tế nghiêm trọng vào rừng: thu nhập từ khai thác tài nguyên rừng chiếm tỷ trọng bình quân tới 55,67% tổng thu nhập hộ gia đình (đạt 13,61 triệu đồng trên tổng thu 24,46 triệu đồng/năm), trong khi sản xuất nông nghiệp chỉ đóng góp 31,84% và lâm nghiệp chiếm vỏn vẹn 0,42%. Về cơ cấu chi tiêu, chi phí sinh hoạt thiết yếu chiếm tới 83,78% tổng chi phí hàng năm (16,50 triệu đồng trên tổng số 19,74 triệu đồng), cho thấy các hộ gia đình phải tận thu tài nguyên thiên nhiên nhằm bù đắp cho nhu cầu sinh hoạt cơ bản.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn tới các tác động bất lợi bắt nguồn từ sự thiếu hụt đất sản xuất nông nghiệp trầm trọng, khiến mức sản lượng lương thực quy thóc chỉ đạt 250 kg/người/năm và hàng năm có từ 300 đến 320 hộ rơi vào cảnh thiếu ăn giáp hạt. Kết quả ước lượng hàm sản xuất Cobb-Douglas cho thấy hệ số co giãn tổng thể của biến khai thác tài nguyên rừng đạt mức cao nhất là 0,54 với mức ý nghĩa thống kê rất cao. Điều này chứng minh rằng khi mức độ khai thác tài nguyên rừng tăng lên 1%, tổng thu nhập của hộ gia đình sẽ tăng thêm 0,54%, trong khi hệ số co giãn của lao động chỉ là 0,17% và diện tích đất canh tác chỉ đạt 0,05%.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rõ nét thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu thu nhập hộ gia đình với lát cắt 55,67% từ tài nguyên rừng, biểu đồ cột so sánh sản lượng khai thác gỗ và củi giữa ba dân tộc Tày, Dao, Kinh, cùng bảng ma trận hệ số hồi quy Cobb-Douglas phản ánh sự phụ thuộc kinh tế của từng phân tầng hộ nghèo, trung bình và khá. Khi đối chiếu với các phát hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát (nơi thu nhập từ rừng chiếm 34% đến 62%), nghiên cứu tại Kim Hỷ củng cố luận điểm rằng việc thành lập khu bảo tồn khi chưa có giải pháp sinh kế thay thế sẽ đẩy người dân vào hành vi vi phạm pháp luật. Bên cạnh đó, nạn khai thác vàng trái phép với 47 lán trại và 36 máy nổ hoạt động trong năm 2007 đã làm ô nhiễm và suy thoái nguồn nước nghiêm trọng; kết quả khảo sát ghi nhận 77,67% số hộ khẳng định mực nước ngầm và sông suối suy giảm mạnh, trong khi 66,67% người dân nhận thấy nguy cơ lũ quét và hạn hán tăng cao so với giai đoạn trước năm 1998.

Đề xuất và khuyến nghị

Chuyển đổi cơ cấu kinh tế và phát triển sinh kế thay thế: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Na Rì cùng Trạm Khuyến nông cần chủ trì xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây dược liệu dưới tán rừng và phát triển các loài tre lấy măng bản địa. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng thu nhập từ sản xuất nông lâm nghiệp thuần túy lên 45% đến 50%, đồng thời hạ tỷ trọng thu nhập từ khai thác rừng tự nhiên xuống dưới 25% tổng thu nhập hộ gia đình trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2015.

Đẩy nhanh tiến độ giao đất giao rừng và thực thi cơ chế đồng quản lý: Ủy ban nhân dân huyện Na Rì phối hợp cùng Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ tiến hành rà soát và quy hoạch lại 9.337,7 ha đất chưa sử dụng để giao cho các cộng đồng thôn bản quản lý ổn định lâu dài. Triển khai ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, hướng tới mục tiêu giảm ít nhất 60% số vụ vi phạm khai thác gỗ trái phép trên địa bàn trước năm 2015.

Nâng cao năng lực canh tác và hỗ trợ an ninh lương thực: Ủy ban nhân dân các xã Ân Tình, Kim Hỷ, Lương Thượng và Lạng San tổ chức các lớp chuyển giao kỹ thuật thâm canh lúa nước và ngô lai nhằm nâng năng suất cây lương thực đạt trên 40 tạ/ha. Tận dụng hiệu quả nguồn vốn từ Chương trình 135 giai đoạn II để đầu tư hoàn thiện hệ thống kênh mương thủy lợi và giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu đói cho 300 đến 320 hộ gia đình nghèo hàng năm, bắt đầu thực hiện ngay từ năm 2010.

Tăng cường kiểm soát lâm luật và quy hoạch bãi chăn thả gia súc: Lực lượng Hạt Kiểm lâm Khu bảo tồn phối hợp với Công an huyện Na Rì duy trì các đợt tuần tra định kỳ, triệt phá dứt điểm các bán điểm và lán trại khai thác vàng trái phép, xử lý nghiêm hành vi buôn bán động vật hoang dã. Song song đó, chính quyền cấp xã cần tiến hành quy hoạch dứt điểm các bãi chăn thả trâu bò tập trung bên ngoài phân khu bảo vệ nghiêm ngặt nhằm chấm dứt tình trạng gia súc tàn phá cây con tái sinh trước năm 2012.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia: Cung cấp bộ chỉ số và phương pháp luận định lượng thực tế để đánh giá chính xác sức ép dân sinh lên tài nguyên rừng vùng lõi, từ đó xây dựng phương án quản lý bảo tồn có sự tham gia của người dân bản địa một cách khả thi.

Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách lâm nghiệp: Cung cấp luận cứ thực tiễn tin cậy phục vụ việc hoàn thiện chính sách giao đất lâm nghiệp, thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và điều chỉnh quy chế quản lý rừng đặc dụng tại các địa bàn miền núi khó khăn.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về sự kết hợp giữa các công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia PRA và mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas trong nghiên cứu tương tác kinh tế - sinh thái.

Các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phát triển quốc tế: Cung cấp bức tranh phân hóa xã hội học chi tiết giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số Tày, Dao, Kinh, làm cơ sở xây dựng các dự án phát triển sinh kế vi mô và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao người dân xung quanh Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ lại phụ thuộc sâu sắc vào việc khai thác tài nguyên rừng? Do điều kiện địa hình núi đá chia cắt phức tạp, diện tích đất nông nghiệp của 7 xã chỉ có 535,6 ha (chiếm 2,02% diện tích tự nhiên), bình quân lương thực đạt thấp với 250 kg/người/năm và có trên 300 hộ thiếu ăn thường xuyên. Thu nhập từ khai thác gỗ, củi và lâm sản ngoài gỗ chiếm tới 55,67% tổng thu nhập hộ gia đình, trở thành nguồn sống chính để duy trì sinh hoạt.

Tập quán canh tác và khai thác rừng giữa các dân tộc Tày, Dao và Kinh có những điểm khác biệt nào? Người Dao thường sống trên các sườn núi cao, đốt nương làm rẫy vào tháng 8 và tháng 9 với diện tích bình quân lớn nhất đạt 0,71 ha/hộ và tiêu thụ củi nhiều nhất (5.231,67 kg/năm). Người Tày có tần suất thu hái lâm sản ngoài gỗ cao nhất (8,33 lần/tháng). Trong khi đó, người Kinh tập trung nhiều vào khai thác gỗ thương mại với 100% số hộ tham gia và thu nhập từ gỗ đạt 7,25 triệu đồng/năm.

Hoạt động chăn thả gia súc tự do trong rừng gây ra những hệ lụy sinh thái cụ thể nào? Với 90% số hộ tham gia chăn thả tự do đàn gia súc bình quân 2,5 con/hộ và tần suất 5,5 lần/tuần, trâu bò trực tiếp giẫm đạp làm chết cây con tái sinh, ăn trụi chồi non của rừng tự nhiên và phá vỡ cấu trúc vi sinh vật tầng mặt đất. Hoạt động này làm suy giảm chất lượng rừng và cản trở nghiêm trọng quá trình phục hồi tự nhiên của các lâm phần rừng trên núi đá vôi.

Mô hình kinh tế lượng Cobb-Douglas trong luận văn chứng minh điều gì về mối quan hệ giữa sinh kế và tài nguyên rừng? Mô hình cho thấy hệ số co giãn của hoạt động khai thác rừng đạt mức 0,54 (với P-value nhỏ hơn 0,01), cao hơn rất nhiều so với hệ số của lao động (0,17) và đất đai (0,05). Điều này khẳng định mức độ gia tăng khai thác tài nguyên rừng tạo ra tác động đóng góp lớn nhất vào tổng thu nhập hộ gia đình, giải thích lý do người dân tiếp tục vào rừng khai thác dù biết vi phạm pháp luật.

Đâu là giải pháp mang tính đột phá để giải quyết hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế tại đây? Giải pháp đột phá là thực hiện đồng quản lý rừng gắn liền với giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp trong tổng số 9.337,7 ha đất chưa sử dụng cho cộng đồng, kết hợp chi trả dịch vụ môi trường rừng và hỗ trợ phát triển mô hình trồng tre lấy măng, cây dược liệu dưới tán rừng nhằm thay thế triệt để nguồn thu từ việc khai thác gỗ và săn bắn trái phép.

Kết luận

  • Tỷ trọng thu nhập từ khai thác tài nguyên rừng chiếm tới 55,67% tổng thu nhập của các hộ gia đình sinh sống tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ.
  • Có tới 95,56% số hộ tham gia khai thác gỗ và 100% số hộ khai thác củi để phục vụ nhu cầu đời sống và buôn bán thương mại.
  • Hoạt động canh tác nương rẫy 358,02 ha cùng chăn thả 2,5 con gia súc/hộ diễn ra tự phát, gây áp lực trực tiếp lên hệ sinh thái rừng tự nhiên trên núi đá vôi.
  • Mô hình hồi quy Cobb-Douglas chỉ ra độ co giãn thu nhập từ việc khai thác tài nguyên rừng đạt mức cao vượt trội với 0,54%.
  • Hệ thống giải pháp kinh tế - xã hội đồng bộ là chìa khóa then chốt giúp giảm thiểu xung đột giữa mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học và bảo đảm sinh kế.

Luận văn đã đóng góp một hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác và luận cứ khoa học vững chắc về sự tương tác giữa cộng đồng dân tộc thiểu số và tài nguyên rừng đặc dụng tại vùng Đông Bắc Việt Nam. Để hiện thực hóa các khuyến nghị, các cơ quan ban ngành cần khẩn trương xây dựng lộ trình quy hoạch đất sản xuất lâm nghiệp và triển khai các mô hình sinh kế thay thế trong giai đoạn 2010 đến 2015. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và bạn đọc quan tâm có thể tiếp tục khai thác sâu các phát hiện của công trình này nhằm hoàn thiện chính sách lâm nghiệp cộng đồng bền vững tại Việt Nam.